Văn học viết là gì? Các đặc trưng của văn học viết?

TranHung

Văn học viết là gì?

Như tên gọi của nó, văn học viết là thể loại văn học được trình bày và lưu trữ dưới dạng chữ viết, một phát minh của con người trong quá trình sinh sống và phát triển có sự góp mặt của yếu tố chữ viết. Mặc dù ra đời khá muộn, văn học viết vẫn là một bộ phận không thể tách rời của kho tàng văn học Việt Nam, bởi nó không chỉ thừa hưởng những đặc tính vốn có của văn học dân gian, đặc trưng của văn học viết còn cho phép nó tách mình ra khỏi tính cộng đồng vốn có của văn học dân gian, dần khẳng định tính cá nhân trong các tác phẩm. Giờ đây, khi tác giả hoặc nhóm tác giả cùng chung tay xây dựng nên cốt truyện, họ dần lưu lại dấu ấn của mình thông qua nhiều yếu tố khác nhau, tạo nên tính cá nhân trong tác phẩm.

Như vậy, có thể tạm chia văn học Việt Nam thành 2 thể loại chính: văn học dân gian (gồm có văn học chịu hoặc không chịu sự ảnh hưởng của bộ máy nhà nước) và văn học viết. Trong đó, tính cá nhân của văn học dân gian thường mờ nhạt, không được thể hiện rõ trong tác phẩm. Ngược lại, trong 1 tác phẩm văn học viết, dấu ấn cá nhân và mắt thẩm mỹ của cá nhân sẽ được biểu thị rõ rệt và đầy đủ nhất.

Xem thêm: Khái quát văn học dân gian Việt Nam và hướng dẫn soạn bài khái quát văn học dân gian Việt Nam

Khái quát văn học Việt Nam qua các giai đoạn

Khi tìm hiểu về nguồn gốc của văn học viết là gì, đến nay người ta vẫn lấy mốc thế kỷ thứ X làm mốc bắt đầu cho sự ra đời của văn học viết. Tuy vẫn còn rất nhiều tranh cãi xung quanh, bởi văn học viết là sự tổng hòa của các yếu tố của xã hội trung đại, nơi con người bắt đầu thoát ra khỏi cái dân gian, dần khẳng định tính cá nhân của mình, cho nên nhiều nhà nghiên cứu muốn đặt văn học viết vào một hạng mục, thời gian nhất định.

Xét theo bối cảnh lịch sử, giai đoạn thế kỷ thứ X đánh dấu sự bắt đầu của giai đoạn nhà nước độc lập ở Việt Nam. Với chiến thắng sông Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đã chính thức giải phóng Việt Nam khỏi ách đô hộ của triều đại phương Bắc, bắt đầu giai đoạn Việt Nam có 1 nhà nước chuyên quyền phong kiến.

Bộ tranh hiếm về cảnh sinh hoạt ở miền Bắc Việt Nam xưa - Tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam

Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh cũng từng nói: ”Dầu có phát hiện được những tài liệu văn học viết có từ trước đó, thì điều ấy cũng khó mà lay động được nhận định hiện nay là: văn học viết của dân tộc ta chỉ có thể thực sự trở thành một dòng bên cạnh dòng văn học dân gian trong điều kiện Nhà nước phong kiến độc lập. Sự ra đời và phát triển của văn học viết có liên quan chặt chẽ với một nghìn năm lịch sử của nước Đại Việt…”, bởi giai đoạn này, chúng ta bắt đầu tiếp nhận sự ảnh hưởng từ bộ chữ Hán tự Trung Quốc, sáng tác các tác phẩm văn học đầu tiên với Hán tự nhưng lại giữ nguyên được ngôn ngữ Việt của mình, tạo tiền đề cho sự ra đời của chữ Nôm vào thế kỷ XV.

Xét theo tiến trình thời đại, đặc trưng của văn học viết thể hiện rõ nét nhất qua 3 giai đoạn: giai đoạn từ thế kỷ thứ X đến XV (trung đại), từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX (cận đại), và văn học Việt Nam từ giai đoạn Pháp Thuộc đến thời hiện đại.

Các thể loại của văn học viết là gì? Cũng giống như văn học dân gian, văn học viết cũng có 12 thể loại, thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đố và hát chèo. Tuy nhiên do được lưu trữ bằng chữ viết, 12 thể loại này sẽ được lưu trữ bằng 3 phong cách văn học khác nhau, gồm văn xuôi, thơ, và văn biền ngẫu.

Xem thêm: Các thể loại văn học dân gian của văn học dân gian Việt Nam?

Giai đoạn xuất hiện Nhà Nước độc lập

Từ thế kỷ X đến XV

Theo lý thuyết, giai đoạn sơ khai của văn học Viết phải lấy văn học dân gian làm nền tảng, tuy nhiên văn học Viết ở Việt Nam lại có những điểm khác biệt. Ở giai đoạn đầu (của nền văn học viết), văn học Trung Quốc có ảnh hưởng toàn diện và to lớn. Ảnh hưởng đó bộc lộ trên tất cả các tiêu chí định tính của nền văn học: lý luận và quan niệm văn học; chủ đề, đề tài và hình tượng; thủ pháp nghệ thuật và cảm hứng, thị hiếu; ngôn ngữ và thể loại. xét về mặt văn tự, thi liệu và các thể văn, dòng văn học viết của quốc gia Đại Việt hình thành trong việc chủ động tiếp thu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc.

Hầu hết các nhà sư thời Lý, các văn nhân võ tướng thời Trần đều dùngchữ Hán và các thể văn Trung Quốc để thể hiện những vấn đề trọng đại củaquốc gia, để diễn tả những rung động của tâm hồn trước non sông đất nước vàcuộc sống đương thời. Nổi tiếng nhất ở thời đại này là tác phẩm Nam Quốc Sơn Hà, được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của người Việt Nam. Ở giai đoạn này, chỉ có tầng lớp quý tộc, nho sĩ mới có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán, vì vậy văn học chữ Hán thời kì đầu được xem như dòng Văn học nghệ thuật của người Việt Nam.

Xem thêm: Văn học nghệ thuật là gì?

Gia phả Họ Đoàn: Việt Nam xưa đẹp lạ trong tranh họa sĩ Pháp

Tiếp nối cái nền tảng ấy, đặc trưng của văn học viết cũng được thể hiện thông qua nhiều tác phẩm viết về lòng yêu nước. Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, hay Phò Giá Về Kinh của Trần Quang Khải, với chất liệu đơn giản nhưng giọng văn hùng hồn, đã thể hiện được vẹn nguyên tinh thần yêu nước và tính dân tộc của con người Việt Nam.

Đến sự ra đời của chữ Nôm đã bắt đầu cho kỷ nguyên văn học viết của người Việt, với bộ thủ và cách viết giống chữ Hán, nhưng lại được dùng để mô tả tiếng Việt, chữ Nôm dần xuất hiện rộng rãi trong các tác phẩm văn học viết sau này, thay thế cho chữ Hán và trở thành chữ Quốc Ngữ. Bên cạnh đó, thơ lục bát cũng bắt đầu được phổ lại bằng chữ viết, kết hợp với các quy tắc gieo vần và phối thanh âm, đã dần thoát ra khỏi thể loại thơ dân gian và trở thành một thể thơ chính thức của người Việt.

Từ thế kỷ XV đến XVIII:

Đặc điểm nổi bật ở giai đoạn này của văn học viết là gì? Ở giai đoạn này tiếp tục phát triển mạnh, không chỉ là các đề tài về lòng yêu nước, ta còn tìm thấy các tác phẩm mang đậm tính nhân sinh, thể hiện sức ảnh hưởng của tôn giáo như Đạo Giáo, Phật Giáo trong tác phẩm. Nếu ở giai đoạn đầu, đặc trưng của văn học viết Việt Nam là chạy theo xu thế phát triển của văn học Trung Hoa, thì ở giai đoạn này, văn học viết đã tìm thấy con đường đúng đắn, ấy là vay mượn chất liệu từ văn học dân gian, để len lỏi vào cuộc sống của người bình dân, khiến cho văn học viết trở nên dễ tiếp cận, đại chúng và thân thuộc với người bình dân.

Các đề tài văn học cũng trở nên đa dạng, gần gũi với đời sống của người dân hơn, không còn là những vấn đề to lớn, vĩ mô như ở giai đoạn trước, với sự xuất hiện của Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến đã chứng tỏ điều đó.

(Với thơ ca trung đại mà nói, Nhàn là một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nói về thái độ thong dong, không chỉ là sự bình thản của thân xác, mà còn là sự tĩnh lặng của tinh thần giữa dòng đời)

Bài thơ Nhàn là một ví dụ, là một bài thơ Nôm trong tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta nhìn thấy một tư tưởng thanh thản, một niềm vui đơn sơ của sự tự do trước cái guồng quay hối hả của cuộc sống. Ấy là điểm khởi đầu cho những đề tài giản dị, đơn sơ nhưng lại có sức ảnh hưởng to lớn đến tinh thần của con người Việt Nam.

Bên cạnh các nhà thơ nam, văn học viết Việt Nam cũng chứng kiến sự xuất hiện của các nhà thơ và nhà văn là nữ, mang đến một phong cách mềm mại, nữ tính và trữ tình cho văn học. Nhiều tác phẩm lấy đề tài tình yêu, sự cô đơn, hay tinh thần tự do, thanh khiết của người phụ nữ cũng dần xuất hiện, như Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, hay Bà Chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương với hàng loạt tác phẩm thơ Nôm trữ tình, gợi lên những sắc quyến rũ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn nhiều khắt khe.

Truyện Kiều là tập đại thành, là đỉnh cao nhất của dòng văn học viết thời Đại Việt. Sở dĩ ta có thể nói vậy, là bởi cách đại thi hào Nguyễn Du lấy cốt truyện Thanh Vân Kiều Truyện có nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng lại sử dụng thể thơ Lục Bát cổ truyền để kể lại một Truyện Kiều mang đậm chất Việt Nam, với sự xuất hiện của văn hóa Việt Nam và những tư tưởng dân tộc gần gũi với người đọc.

Văn học Viết hiện đại (từ thời Pháp Thuộc năm 1868 đến hiện nay)

Bắt đầu của sự tàn lụi của Nho Giáo, văn học viết Việt Nam giao thoa giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại, ta tiếp thu những tư tưởng tây phương mới mẻ và dần loại bỏ những dấu ấn của Nho Giáo trong văn học. Dưới sự ảnh hưởng của phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc trưng của văn học viết dần trở thành dòng văn học cổ vũ kháng chiến, với sự ra đời của chữ Quốc Ngữ mới, được cải biên từ tiếng Latin, thay cho chữ Nôm.

Đặc trưng của văn học viết thời kỳ này vẫn kế thừa những tư tưởng tự do, những đề tài về con người, cuộc sống, được thể hiện rõ nét trong giai đoạn văn học này. Bên mảng văn học có sự xuất hiện của Tự Lực Văn Đoàn, tiên phong trong việc cách tân văn học, mang chủ nghĩa hiện thực vào văn học để cổ vũ cho kháng chiến, trong khi đó mảng thơ cũng nổi bật với phong trào thơ mới, thoát ra khỏi nguyên tắc, gò bó với sự dẫn dắt của Thế Lữ và Xuân Diệu. Hiện nay, các tác phẩm danh tác vẫn được tái bản liên tục, dòng văn học nghệ thuật này vẫn tìm thấy chỗ đứng của nó trong lòng độc giả hiện đại.

(Đại diện cho giai đoạn 1945, khi nạn đói sắp đạt đến đỉnh điểm, Vợ Nhặt của Kim Lân không chỉ nói về tình nghĩa con người đùm bọc nhau trong giai đoạn đói khát, ở đó còn là hiện thực tàn khốc, nơi nhiều mối tình chớm nở vì cảnh đói nghèo đã đến gần sát)

Cho đến giai đoạn hiện đại, đặc trưng của văn học viết đã bắt đầu có sự hòa trộn giữa nhiều thể loại, trường phái khác nhau. Nổi bật nhất trong thị trường văn học viết hiện nay là những chủ đề, trải nghiệm cá nhân do những cá nhân trẻ trải nghiệm và viết nên. Từ những chủ đề rất đại trà, trải nghiệm riêng của từng người đã giúp văn học trải nghiệm, hồi ký hay dạng truyện ngắn trở thành tâm điểm trong văn học hiện đại, bên cạnh thể loại truyện tiểu thuyết truyền thống.

Đặc trưng của văn học viết

Đối với văn học viết, có 4 đặc trưng cơ bản giúp dòng văn học này đứng riêng biệt với văn học dân gian. Các đặc trưng đó bao gồm dấu ấn cá nhân của tác giả, sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, nâng cấp và thể hiện được những tư tưởng sâu sắc, cuối cùng là nhóm đối tượng đọc có phần hạn chế.

  • Tính cá nhân

Tính cá nhân được tìm thấy trong các tác phẩm văn học viết chính là một đặc trưng của văn học viết giúp ta phân biệt với văn học dân gian. Nếu văn học dân gian là tổng hòa của những trải nghiệm đến từ 1 nhóm người, văn học viết được sáng tạo dựa trên trải nghiệm cá nhân của một hoặc một nhóm người cụ thể không đại diện cho cộng đồng. Ở văn học dân gian, cái đồng nhất được thể hiện dựa trên những trải nghiệm chung trong đời sống sinh hoạt, mà người nghe và người kể (Tác giả) là một phần của nó. Do đó có thể nói, người sáng tác ra tác phẩm và người thưởng thức tác phẩm là 2 nhóm đối tượng khác nhau, khác với sự đồng nhất trong văn học dân gian.

  • Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật

Nhiều biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn học viết cũng là một đặc trưng của văn học viết. Để cốt truyện thêm hấp dẫn nhưng vẫn mang tính hiện thực, các tác giả văn học viết Trung Đại đã không còn ưa chuộng việc thêm thắt các yếu tố thần bí, phép thuật hay thần linh vào tác phẩm, thay vào đó, họ dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa… để làm nổi bật tác phẩm của mình. Những thủ pháp được chọn để thể hiện sẽ nhấn mạnh mục đích của chúng.

Trong tác phẩm Vội vàng của Xuân Diệu, ông kết hợp rất nhiều thủ pháp nghệ thuật vào để làm nổi bật sự vội vàng, tha thiết của con người trước vẻ đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời. Nổi bật nhất là thủ pháp nhân hóa, giúp người đọc liên tưởng đến sự nồng nhiệt của con người trước cái đẹp thô sơ, vẹn nguyên trước mắt.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

  • Thể hiện được những ý tưởng sâu xa

Là sự kế thừa của văn học dân gian, nhiều tác phẩm văn học viết đã vay mượn những chất liệu tự nhiên, đơn sơ của văn học dân gian và nâng cấp chúng thành những tư tưởng nhân sinh sâu sắc. Theo tiến trình phát triển của tháp nhu cầu Maslow, sau khi con người đã hiểu về nguồn gốc xuất phát của mình, họ bắt đầu có những nhu cầu khẳng định bản thân, bắt đầu muốn đưa cái cá nhân vào tập thể cộng đồng. Đây là một quá trình cho-nhận có tính tuần hoàn giữa cá nhân và tập thể.

Sự tự do của con người là một ví dụ rất hay cho việc nâng cấp tư tưởng nhân sinh đặc trưng của văn học viết. Trong mỗi bối cảnh khác nhau, tư tưởng tự do lại mang một ý nghĩa khác nhau.

Trong văn học dân gian, sự tự do của con người thể hiện thông qua ước muốn được sống trong xã hội công bằng, được sống và phát triển cùng cộng đồng dưới ách đô hộ của giặc phương Bắc. Khi nhà nước độc lập hình thành, bối cảnh thay đổi khiến cho sự tự do của con người biến đổi theo, với họ, sự tự do bấy giờ chuyển thành việc được sống thanh thản, được làm điều mình thích mà không phải chịu sự đàn áp của tư tưởng phong kiến cổ hủ. Khi phải chịu sự đàn áp của thực dân Pháp, cái suy đồi đạo đức, cái gánh nặng mà con người đang phải chịu đựng đã tạo thành tiền đề cho tác giả sản xuất ra những tác phẩm đậm chất cá nhân.

  • Nhóm đối tượng có phần hạn chế

Cho đến năm 1945, có đến 95% dân số Việt là người mù chữ, chính vì vậy văn học viết cũng không thực sự là tác phẩm đại chúng được đông đảo người dân đón nhận. Các tác phẩm được xuất bản được lưu truyền và đăng đàn trên các tờ báo chính thống, cũng chỉ có thể tiếp cận đến một bộ phận công chúng nhất định. Chính vì vậy, mặc dù là một dòng văn học riêng biệt nổi tiếng, độ phủ sóng của văn học viết vẫn thua xa các tác phẩm văn học dân gian dễ nghe dễ nhớ trong đại chúng.

Các tác phẩm tiêu biểu của văn học viết là gì?

Nam Quốc Sơn Hà

Ra đời vào đầu thế kỷ thứ X, Nam Quốc Sơn Hà được viết bằng chữ Hán, nhằm cổ vũ tinh thần cho chiến sĩ khi ra trận chống giặc ngoại xâm. Không chỉ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của người Việt nam, Nam Quốc Sơn Hà còn khơi dậy tình yêu nước nồng nàn của dân tộc, khẳng định tính chủ quyền và độc lập dân tộc của người Việt trong giai đoạn đầu hình thành nhà nước tự chủ.

(Bản dịch thơ Nam Quốc Sơn Hà trong sách Ngữ Văn lớp 7)

Bánh Trôi Nước

Được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt (4 câu 7 chữ), bánh trôi nước là một tác phẩm thơ Nôm tiêu biểu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, miêu tả cái đẹp rạng rỡ, phồn thực của người phụ nữ trong bối cảnh phong kiến nhiều giáo điều, cổ hủ vốn chuộng nam giới đã kìm hãm sự phát triển của phái nữ. Bằng phép so sánh, bà gợi dậy trong tâm trí người đọc những suy nghĩ thoát tục, đem lại sự thú vị trong lòng người đọc. Cũng như các tác phẩm khác của bà, nhiều nhà phân tích gọi thơ của bà “thanh thanh tục tục”, ẩn chứa những sự cợt nhả phóng khoáng của bà về cái gọi là trần tục và xác thịt.

Truyện Kiều

Ra đời khi văn học Nôm đang ở đỉnh cao, truyện kiều được xem là một tác phẩm thi ca tiêu biểu cho văn học viết. Kế thừa các đặc trưng của văn học viết, truyện Kiều kể lại một cuộc đời truân chuyên của Kiều, bắt đầu từ việc nàng bán mình chuộc cha, rồi nhiều lần bị đưa vào thanh lâu làm kỹ nữ, cũng như những bi kịch liên tiếp kéo đến như phải làm vợ lẽ, bị bắt mua vui cho kẻ thù của chồng. Qua hơn 2000 câu thơ, Truyện Kiều không chỉ là một câu chuyện về tình yêu, tác phẩm còn là một câu chuyện về sự kiên cường, của đức hy sinh và những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Ý tưởng của tác phẩm có thể xuất phát từ một câu chuyện của Trung Hoa, nhưng với sự biến tấu rất tài tình của Nguyễn Du, Truyện Kiều mang đậm văn hóa Việt Nam, thể hiện rất rõ tư tưởng dân tộc nước nhà.

(Hình ảnh minh họa cho tác phẩm Truyện Kiều- một sản phẩm văn hóa tinh thần của người Việt)

Tắt Đèn

Ra đời vào năm 1937, Tắt Đèn của Ngô Tất Tố là một tác phẩm hiện thực phê phán nói về cuộc sống khốn cực, đau đớn của người nông dân nghèo trong xã hội bị thực dân Pháp đô hộ. Theo chân gia đình chị Dậu, ta nhìn thấy những sự cơ cực của người nông dân chân chất nghèo khó: bị bóc lột nặng nề, bị cái nghèo và những luật lệ ác độc trói buộc, phải đưa ra những hành động đi ngược lại với đạo đức để cứu lấy bản thân và gia đình (bán con và đi vắt sữa cho quan già).

Qua tác phẩm, ta không chỉ nhìn thấy một hiện thực chân thực đến đau lòng, ở đó người nông dân phải chịu những áp bức bóc lột từ nhiều phía, để làm rõ sự suy đồi, tàn bạo mà thực dân Pháp đã làm, cũng như những điều lệ cồng kềnh, nặng tư tưởng của xã hội nửa phong kiến bấy giờ. Một xã hội mục ruỗng, nơi mà mạng sống của con người còn chẳng bằng 2 đồng sưu thuế, đã được khắc họa rất rõ dưới ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố.

Vòng Tay Học Trò

Kể từ khi được đăng báo vào năm 1964, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng đã trở thành một tác phẩm gây tranh cãi khi bà khai thác chuyện tình đôi lứa giữa cô giáo Tôn Nữ Ngọc Trâm với cậu học trò tên Minh. Ở Vòng Tay Học Trò, không có vai vế, không có những tôn nghiêm, đó chỉ đơn thuần là tình cảm nam nữ, dưới một xã hội quá dễ dãi, quá phóng túng, dẫn đến bi kịch không thể quay đầu.

Núp dưới bóng một câu chuyện diễm tình, cô giáo Trâm (xuất thân là gia đình gia giáo ở Huế) đại diện cho những tư tưởng gia phong truyền thống, những thuần phong mỹ tục trói buộc con người, phải trốn chạy và từ bỏ Sài Gòn, đại diện cho lối sống phóng túng, suy đồi của con người rồi lại gặp Minh, cậu học trò đại diện cho chính cái suy đồi, thơ thẩn của chủ nghĩa hiện sinh tại Đà Lạt.

Không có đúng sai, chỉ có sự thật, Vòng Tay Học Trò không đi theo hướng tư tưởng sâu xa, mà tập trung khai thác những khoái lạc tầm thường, sâu thẳm trong lòng người phụ nữ, và chuyện tình vụng trộm như trái cấm giữa Trâm và Minh như một đốm lửa le lói trong cái lạnh giá của hiện thực, rằng Trâm đã bỏ lại Sài Gòn, tìm về cái thuần phong mỹ tục vốn có rồi chết lặng vì sự nhạt nhẽo, cô quạnh mà nó đem lại.

Nếu bạn tự hỏi văn học viết là gì ở miền Nam Việt Nam, Vòng Tay Học Trò sẽ là đại diện cho những đặc trưng của văn học viết giai đoạn 1954-1975: không chỉ thừa hưởng những cá tính của chủ nghĩa hiện sinh, vốn coi trọng ý nghĩa do con người mang đến, tác phẩm còn là sự học hỏi, giao thoa với phong trào hippie nổi tiếng ở Mỹ thời bấy giờ, nơi mà con người chỉ sống vì một phút giây rực rỡ của cuộc đời mà không màng đến tương lai và ngày mai.

Màu sắc hiện sinh trong “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng - Văn Học Sài Gòn