Đồng chí Trần Phú với Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 10-1930

TranHung

Tóm tắt: Đồng chí Trần Phú (1904-1931), Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng- người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ (27 tuổi), nhưng đồng chí đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đặc biệt là đồng chí đã chủ trì soạn thảo Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10-1930. Luận cương là văn kiện quan trọng của Đảng, xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thực tiễn đất nước và “phù hợp với nguyện vọng tha thiết của đại đa số nhân dân ta là nông dân”1. Từ khóa: Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên; Luận cương chánh trị; tháng 10-1930

1. Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương là kết tinh những quan điểm của Đảng về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, về tình hình thế giớiđặc điểm của Đông Dương, Luận cương đã trình bày những vấn đề cơ bản, song cũng cụ thể, khá chi tiết. Đề cập đến tình hình thế giới, Luận cương cho rằng, từ sau chiến tranh thế giới I, tình hình thế giới chia thành 3 giai đoạn: 1918-1923; 1923-1928 và từ năm 1928 trở đi có đặc điểm: CNTB lâm vào thời kỳ khủng hoảng, các nước đế quốc tranh giành thị trường, sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới; Liên bang Xô viết ngày càng phát triển, đặc biệt là về kinh tế và đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng CNXH nên CNĐQ muốn đánh đổ Liên bang Xô viết - thành trì của CNXH; cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa phát triển mạnh mẽ.

Về tình hình Đông Dương, Luận cương chỉ rõ: Xứ Đông Dương cần phải phát triển độc lập, song vì là thuộc địa nên không phát triển độc lập được. Sự mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt: “một bên thì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong kiến, tư bổn và đế quốc chủ nghĩa”2. Cùng với mâu thuẫn về giai cấp là các mâu thuẫn về kinh tế. Những mâu thuẫn đó làm cho phong trào cách mạng Đông Dương ngày càng phát triển.

Thứ hai, về tính chất và con đường phát triển của cách mạng Đông Dương: Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thế giới và tình hình thực tế ở Đông Dương, Luận cương xác định, thời kỳ đầu cách mạng Đông Dương “là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền”, “có tánh chất thổ địa và phản đế”3. Luận cương xác định: làm cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi, bỏ qua thời kỳ tư bản, tiến thẳng lên con đường XHCN. Cách mạng tư sản dân quyền mới chỉ là giai đoạn thứ nhất của cách mạng Đông Dương. Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi, hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến được hoàn thành, cách mạng Đông Dương sẽ chuyển sang giai đoạn thứ hai - giai đoạn cách mạng XHCN: “Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng. Tư sản dân quyền cách mạng được thắng lợi, chánh phủ công nông đã dựng lên rồi, thì công nghiệp trong nước được phát triển, các tổ chức vô sản được thêm mạnh, quyền lãnh đạo của vô sản sẽ thêm kiên cố, sức mạnh giai cấp tương đương sẽ nặng về phía vô sản. Lúc đó sự tranh đấu sẽ thêm sâu, thêm rộng, làm cho cách mạng tư sản dân quyền tiến lên con đường cách mạng vô sản”4.

Thứ ba, về nhiệm vụ và lực lượng cách mạng của cách mạng tư sản dân quyền: Căn cứ vào mâu thuẫn cơ bản của cách mạng là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ, phong kiến, Luận cương xác định: “Nhiệm vụ cốt yếu củacách mạng tư sản dân quyền là:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ,

b) Lập chánh phủ công nông,

c) Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chánh phủ công nông,

d) Sung công hết thảy các sản nghiệp lớn của bọn tư bổn ngoại quốc,

….

g) Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận dân tộc tự quyết,

h) Lập quân đội công nông,

i) Nam nữ bình quyền,

k) ủng hộ Liên bang Xôviết; liên kết với vô sản giai cấp toàn thế giới và phong trào cách mạng thuộc địa và bán thuộc địa”5.

Điều đáng chú ý là, Luận cương chủ trương, phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến: “Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được các giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa”6. Việc phân tích mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ này, tuy có những chỗ không phù hợp với hoàn cảnh một nước thuộc địa nhưng là cần thiết, vì sự cấu kết giữa đế quốc với phong kiến là một đặc trưng của chế độ thuộc địa.

Trên cơ sở phân tích các giai cấp, tầng lớp tại Đông Dương, Luận cương khẳng định: “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”7.

Thứ tư, về phương pháp đấu tranh và hình thức đấu tranh, Luận cương chỉ rõ: phải sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ ách áp bức của thực dân, phong kiến, song “Võ trang bạo động không phải là một việc thường, chẳng những là theo hình thế trực tiếp cách mạng, mà lại phải theo khuôn phép nhà binh, cho nên cần phải chú ý”8. Để bảo đảm cho cách mạng thành công, Luận cương chỉ rõ: “Trong khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để suy động đại quần chúng ra thị oai, biểu tình bãi công, v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này”9.Tức là, trong hoạt động chỉ đạo thực tiễn, Đảng phải nhạy bén, tinh tường trong đánh giá, phân tích chính xác, kịp thời diễn biến tình hình cách mạng để phát động cách mạng thành công.

Thứ năm, về mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, Luận cương nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới. Muốn giành được thắng lợi, Luận cương chỉ rõ: “Vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhứt là vô sản Pháp để làm mặt trận vô sản "mẫu quốc" và thuộc địa cho sức tranh đấu cách mạng được mạnh lên”10. Đồng thời, cách mạng Đông Dương phải liên hệ chặt chẽ với mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa và nửa thuộc địa.

Thứ sáu, về vai trò lãnh đạo của Đảng, Luận cương khẳng định: cách mạng Đông Dương muốn giành được thắng lợi “phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu dài, chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương, và lãnh đạo vô sản giai cấp Đông Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối cùng của vô sản là chủ nghĩa cộng sản”11.

Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định rõ con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là đánh đổ CNĐQ và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng và tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam và Đông Dương được đề cập trong Luận cương là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lê nin vào thực tiễn Việt Nam; đồng thời, là sự kế thừa những nội dung cơ bản của: Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930).

2. Những vấn đề về đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam được nêu trong Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương cơ bản thống nhất với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sự thống nhất đó thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Về phương hướng chiến lược của cách mạng, cả hai văn kiện đều xác định tính chất của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, đi tới xã hội cộng sản. Đây là hai giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn đầu làm tiền đề cho giai đoạn sau. Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam đã phản ánh xu thế của thời đại và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam.

Về nhiệm vụ cách mạng, hai văn kiện đều xác định, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là: chống đế quốc, chống phong kiến để giành độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời, mang lại ước mơ ngàn đời cho nông dân là “người cày có ruộng”.

Về phương pháp cách mạng, để cách mạng giành thắng lợi, hai văn kiện đều khẳng: phải sử dụng bạo lực cách mạng, tức là dùng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông.

Về quan hệ với cách mạng thế giới, hai văn kiện đều chỉ rõ, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới và quan hệ khăng khít với cách mạng thế giới.

Về giai cấp lãnh đạo cách mạng, cả hai văn kiện đều khẳng định: giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, thông qua Đảng cộng sản: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”, như Hồ Chí Minh đã từngcho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam12.

Sự thống nhất trên là do cả hai văn kiện đều thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và lý luận về cách mạng vô sản - Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Đó là sự thống nhất về đại cục, những vấn đề mang tính chiến lược. Điều này đã được, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu rõ nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình”13.

Hạn chế lớn nhất của Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương là chưa chỉ ra được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu, mà nặng về vấn đề đấu tranh giai cấp; chưa xác định được mâu thuẫn dân tộc hay mâu thuẫn giai cấp là chủ yếu, kẻ thù nào là chủ yếu. Đồng thời, đánh giá không đúng khả năng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, trung và tiểu địa chủ, giai cấp tư sản dân tộc...; chưa xác định đúng tầm quan trọng và sức mạnh của lòng yêu nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

3. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế, song Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương có một số điểm mới có giá trị mà trong Chính cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng chưa có điều kiện nêu lên. Đó là luận điểm “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Trên cơ sở phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa cách mạng tư sản dân quyền và xã hội cách mạng (XHCN), Luận cương khẳng định: “Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”. “Thời kỳ dự bị”, được hiểu là tiền đề, điều kiện để tiến tới CNCS. Nghĩa là, phải đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ rồi tiến lên con đường cách mạng vô sản. Ở một xứ thuộc địa thì cách mạng tư sản dân quyền là nhiệm vụ hàng đầu, mục tiêu trực tiếp, tiền đề để đi tới CNCS. Luận cương đề cập tới “thời kỳ dự bị”, tức là phải chuẩn bị những tiền đề về chính trị, kinh tế - xã hội. Trong đó: Tiền đề chính trị là quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là hai lực lượng chính, là chính phủ công nông và các tổ chức vô sản, là sự ủng hộ của giai cấp vô sản thế giới. Tiền đề kinh tế là phát triển công nghiệp; quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chính phủ công nông, tịch thu các sản nghiệp lớn của tư bản ngoại quốc; tiền đề xã hội là giải phóng con người, thực hiện chế độ ngày làm việc 8 giờ, thực hiện nam nữ bình quyền, thừa nhận dân tộc tự quyết…

Những yếu tố “dự bị” mang tính chất tiền đề đó của một nước vốn là thuộc địa, tuy rất nhỏ, nhưng không vì thế mà chấp nhận trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, luận điểm “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN” là đóng góp lớn về mặt lý luận. Luận điểm khoa học này đã được hiện thực hóa tại Việt Nam. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, hòa bình được lập lại, trong khi miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, Đảng chủ trương đưa miền Bắc tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam. Mục tiêu đó, tiếp tục được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên định trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Trong thời kỳ đổi mới, Đại hội IX (2001) của Đảng khẳng định, “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”.

Trong bối cảnh lúc đó, vượt lên những khó khăn ngặt nghèo, đồng chí Trần Phú đã cùng Trung ương Đảng lâm thời và các đồng chí trong Đảng soạn thảo Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, đề ra đường lối chiến lược cơ bản, tạo nền tảng vững chắc lâu dài cho cách mạng Việt Nam. Đó là cống hiến to lớn của đồng chí Trần Phú và các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam được nêu trong Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương là không thể phủ định, song hiện nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cố tình xuyên tạc, đối lập Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đối lập Trần Phú với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó là thực chất là những quan điểm sai trái, phản động của các thù địch nhằm phủ định Cương lĩnh, đường lối của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra hiện nay là, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấu triệt những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam được nêu trong Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương; từ đó, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn.

Giá trị lý luận và thực tiễn của các Cương lĩnh của Đảng, trong đó có Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Thực tiễn sinh động của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn khẳng định chân lý: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”14. Hiện nay, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là động lực để dân tộc Việt Nam từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước “… ngày càng cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”15.

Ngày gửi: 28-5-2024; ngày thẩm định, đánh giá: 22-6-2024; ngày duyệt đăng:28-6-2024

1, 12, 13, Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 12, 407, 406, 407

2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 2, tr. 90, 93, 94, 95, 94, 94, 102, 102, 103, 100.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTGQ, H, 2011, tr. 70.

15. Báo Nhân dân, ngày 1-2-2024.