TÓM TẮT:Ở Việt Nam đang hình thành hai loại hình nhân lực, là nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỉ lệ rất thấp. Do đó, trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích về thực trạng nguồn nhân lực hiện nay và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một đòi hỏi bức thiết hiện nay.Từ khóa: Nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động.
I. Đặt vấn đề Bất cứ một chương trình phát triển kinh tế - xã hội nào của một đất nước, một địa phương, hay một doanh nghiệp, thì sự thành hay bại thường xuất phát từ một số yếu tố cơ bản như tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ và lao động. Trong các yếu tố cơ bản quan trọng này, việc phát triển kinh tế - xã hội đó chính là nhân tố con người. Đây cũng là yếu tố đầu vào quan trọng đối với mọi doanh nghiệp hiện nay. Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có đội ngũ lao động kỹ thuật với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Ở nước ta, nguồn lao động khá dồi dào, có trình độ học vấn căn bản, làm cơ sở cho việc đào tạo nghề nghiệp và nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, sẵn sàng để được tham gia vào các chương trình kinh tế - xã hội của địa phương, kể cả tham gia xuất khẩu lao động. Người lao động hầu hết đều cần cù, chịu khó làm việc, có ý thức học hỏi và chấp hành nội quy, chấp hành pháp luật khá nghiêm túc. Đây chính là nguồn lực ban đầu cần thiết cho những quyết định đầu tư trong nước, cũng như kêu gọi hợp tác đầu tư của người nước ngoài vào các dự án phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để nguồn nhân lực đó trở thành nội lực thực sự mạnh cho việc gọi vốn, thu hút công nghệ khai thác tiềm năng thiên nhiên, thì cần phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đào tạo nghề nghiệp cho người lao động. Hiện nay, trình độ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp, khó có thể tạo ra hiệu quả trong việc sử dụng vốn, công nghệ và khai thác tiềm năng, điều này dẫn đến việc ngày càng khó khăn về chất lượng hàng hóa vàgiải quyết việc làm.II. Thực trạng nguồn nhân lựcTheo đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank), nước ta đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kĩ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác. Trong khi tồn tại một nghịch lý đó là cử nhân, thạc sĩ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức báo động.Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2016, Việt Nam có hơn 95 triệu người, đến gần cuối năm 2017, con số này là gần 98 triệu người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực Việt Nam đang phát triển nhanh, dồi dào. Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, tri thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành nghề.Ở nước ta mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động chiếm số đông, không có nghĩa là thị trường Việt Nam đang đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong số 51,4 triệu lao động chỉ có 7,8 triệu người đã được đào tạo chiếm 15,4%. Sự chênh lệch về chất lượng nguồn lao động được thể hiện rõ nhất ở khu vực nông thôn và thành thị. Ở thành thị người lao động được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi đó ở nông thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này là quá lớn, nên đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế của cả nước. Trong khi đó, lượng lao động nông thôn lên thành thị tìm việc rất lớn. Nhưng mục đích chính của lực lượng lao động này lên thành thị không phải là để học nghề, học việc, mà tham gia vào các công việc có tính chất thời vụ, buôn bán hoặc công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề. Theo đó, số lượng lao động được bổ sung, nhưng chất lượng lại hạn chế. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, chưa qua học nghề bài bản, thiếu tác phong công nghiệp, nên nhiều doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhiều lao động lại không tuyển được hoặc tuyển được nhưng không hài lòng về chất lượng. Nguồn lao động dồi dào, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động. Nguyên nhân là do lao động Việt Nam chỉ đáp ứng được nhu cầu về số lượng chứ chưa đáp ứng được về chất lượng. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp, mà còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân.Mặt khác, hiện nay, Việt Nam chính thức gia nhập TPP và sẽ mở cửa thị trường rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Đối với lao động Việt Nam, hiện nay mới chỉ có 25% trong tổng số 42 triệu lao động qua đào tạo, khoảng 80% thanh niên (18-23 tuổi) bước vào thị trường lao động chưa qua đào tạo nghề. Điều này dẫn đến dư thừa lao động phổ thông, thiếu lao động kĩ thuật lành nghề, thiếu chuyên gia, doanh nhân, nhà quản lý, cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với 5,78/10 của Trung Quốc và 4,04/10 của Thái Lan, đây là những thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam. Bên cạnh đó, gia nhập WTO đồng nghĩa việc Việt Nam gia nhập chuỗi phân công lao động toàn cầu. Do nguồn nhân lực rẻ, dồi dào và giá nhân công rẻ, nêntrong ngắn hạn, Việt Nam có lợi thế so sánh về việc làm ở các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở yếu tố lao động rẻ sẽ không thể biến thế mạnh đó thành cơ hội. Ngoài ra, yếu tố lao động rẻ chỉ có lợi thế đối với những ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động, không là lợi thế đối với những ngành kinh tế sử dụng công nghệ cao, hoặc ngành sử dụng nhiều vốn. Đối với doanh nghiệp gia nhập WTO buộc các doanh nghiệp của Việt Nam phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh, cải tiến trang thiết bị, nâng cao năng suất, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực, kể cả nguồn lực lao động. Sức ép sẽ ngày càng tăng dần, nhất là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Các chủ doanh nghiệp đều cảm nhận được rằng, nền kinh tế ngày càng phát triển, quá trình hội nhậpkinh tế ngày càng được mở rộng, thì việc thu hút nhân lực có trình độ ngày càng gay gắt, nhất là trong tình hình hiện nay. Những tập đoàn quốc gia với lợi thế cạnh tranh về chính sách đãi ngộ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước vào chỗ khó khăn hơn, phải đương đầu với cuộc chiến dành nhân tài. Một trong những việc phải được ưu tiên đầu tư đó là xây dựng nguồn nhân lực, trong đó cần thiết phải trang bị và không ngừng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, xem đó là điểm tựa của hệ thống đòn bẩy để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Phát triển TP. Hồ Chí Minh, hiện nay, cung lao động tại Việt Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng miền. Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo nhưng còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn. Về mặt nhu cầu, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, nơi kỹ năng tay nghề và trình độ của người lao động thường không cần ở mức độ cao. Lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp chiếm 20% và đối với khu vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 26%.Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện tại, chất lượng làm việc của lao động rất thấp. Cụ thể, việc làm giản đơn không cần kỹ năng chiếm gần 40% tổng việc làm của cả nước. Ở khu vực thành thị, tỷ lệ này là 18%, nhưng khu vực nông thôn chiếm gần 50% tổng việc làm. Trong khi đó, so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao của các ngành dịch vụ và công nghiệp tăng rất nhanh. Đến các KCX - KCN, khi tuyển công nhân cho các ngành May mặc, Điện tử cũng ưu tiên người có kinh nghiệm, tay nghề, lao động đã qua đào tạo.Bên cạnh các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta cũng đang rất khát nguồn lao động có tay nghề chất lượng cao. Trong khi đó, tỷ lệ lao động có tay nghề của nước ta lại quá ít, không đủ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề vô cùng quan trọng.Như vậy, có thể thấy rằng chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay còn rất thấp, trong khi nhu cầu sử dụng nguồn lao động có tay nghề, chất lượng cao của các doanh nghiệp lại liên tục tăng. Điều này dẫn đến nguồn lao động của nước ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn, nhưng các doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động có chất lượng. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp ngày càng gia tăng của nước ta.III. Đề xuất giải pháp Một là: Phải xác định cho rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Một đất nước rất ít tài nguyên thiên nhiên như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế, gọi là tài nguyên nguồn nhân lực, hoặc tài nguyên con người. Muốn vậy, phải làm cho mọi người thấy rõ vai trò, trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức và chất lượng nguồn nhân lực thành lợi thế cạnh tranh trên phương diện toàn cầu. Đây là nhiệm vụ của toàn xã hội và là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, quản lý, của nhà trường, của doanh nghiệp, của gia đình, cũng như của bản thân mỗi người lao động. Đây chính là thể hiện quan điểm phát triển của con người, phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người, là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững.Hai là: Mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn xã hội về nhân lực Việt Nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Phát động phong trào thi đua yêu nước tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền.Ba là: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo dục đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ, chính sách trọng dụng chuyên gia, tham mưu, kỹ sư, nhà thiết kế, phát minh, gọi chung là nhân tài, chính sách về môi trường, điều kiện phương tiện làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội chính sách cho các cơ quan khoa học phi chính phủ; Tổ chức tốt việc thực hiện các chính sách đó; Cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, có chế độ ưu đãi cho người học.Bốn là: Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực, hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhân lực, đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt lý, nhìn rõ đúng sai, kip thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực. Tổ chức bộ máy quản lý nhân lực từ trung ương đến địa phương. Nhân sự cho bộ máy này phải là những chuyên gia giỏi về nghiên cứu nhân tài, nhân lực trong và ngoài biên chế nhà nước. Làm rõ chức năng nhiệm vụ của bộ máy này là tư vấn, tham mưu, đề xuất, thu thập, phân tích các số liệu về nguồn lực ở tất cả các ngành, các cấp.Năm là: Tiến hành điều tra khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất lượng nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp địa phương và cả nước; đảm bảo cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và trong từng ngành, từng cấp.Sáu là: Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, đáp ứng như cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, chủ yếu là hội nhập kinh tế.Bảy là: Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ trung ương đến địa phương; tổ chức hợp lý cấp bậc đào tạo, thực hiện phân cấp quản lý đào tạo giữa các bộ, ngành địa phương; quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề. Khuyến khích thành lập các trường đại học, cao đẳng tư thục tại các nơi có điều kiện, góp phần đẩy nhanh số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo.Tám là: Đổi mới cách xây dựng nền giáo dục đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội, thực hiện đúng yêu cầu học để làm việc, giúp nước giúp dân, xây dựng cơ sở đào tạo theo hướng đào tạo đến đâu sử dụng đến đó.Chín là: Xây dựng hệ thông quốc gia để kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo, xử lý và thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực trên cả nước, đảm bảo phát triển hài hòa, cân đối.Mười là: Đảm bảo huy động nguồn vốn cho phát triển nhân lực, đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường các nguồn vốn cho phát triển nhân lực.Mười một là: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ hiện đại về Việt Nam.Mười hai là: Nâng cao hơn nữa chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. Ngành Y tế phải có những quy định cụ thể về kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền… trước khi chính quyền cấp giấy đăng ký giá thú. Khi đã đạt được chất lượng con người, phải tính đến chất lượng cuộc sống có nghĩa là phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người được sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam hiện còn kèm xa so với rất nhiều quốc gia.Mười ba là: Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xác định thật rõ nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà họach định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.Mười bốn là: Để xây dựng chất lượng con người phải có sự gắn kết với chất lượng cuộc sống xã hội có sự gắn kết chặt chẽ giữa xã hội - nhà trường - gia đình để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.Mười lăm là: Hàng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó phát huy những mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt. Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có những chính sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế.Nói tóm lại, nếu không làm tốt vấn đề tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, thì sẽ khó đạt được mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Trên thực tế, có nhiều quốc gia đang phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình, nhưng ít nước tiếp tục đi lên được để trở thành một nước công nghiệp, vì không có chính sách hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực. Đây cũng chính là những bài học cho Việt Nam để hướng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới.TÀI LIỆU THAM KHẢO:1. Careerbuilder.vn2. Careerlink.vn3. Ilssa.org.vn4. Bbc.com5. Trang web Thống kê6. Giáo trình Quản trị nhân lựcSOLUTIONS FOR LABOR PROBLEMS IN VIETNAM
MA. DO THI THU HUONG
Faculty of Business Admnistation - University of Economic and Technical Industries
ABSTRACT:
In Vietnam, there are two types of human resources, sub-standard and high-quality ones. The number of high-quality human resources is still very low. Therefore, in this article, the author focuses on the current situation of human resources and proposes solutions for human resource development, especially high quality human resources, which is a requirement nowadays.
Keywords: High quality human resources, labor.
Xem tất cả ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 5 + 6 tháng 4/2018 tại đây
Hoặc