Sức mạnh nội sinh của văn hóa Việt Nam trong đổi mới - phát triển và hiện đại hóa đất nước - Media story - Tạp chí Cộng sản

Văn hóa và sức mạnh nội sinh của văn hóa Việt Nam

Nghiên cứu về văn hóa, chúng ta đã biết đến sự bùng nổ các định nghĩa khác nhau về văn hóa để tìm câu trả lời “Văn hóa là gì?”. Vậy mà hàng trăm, hàng ngàn định nghĩa về văn hóa đã có vẫn không đủ sức thỏa mãn và có đầy đủ sức thuyết phục tư duy về văn hóa trong giới nghiên cứu. Phạm trù văn hóa cần được định nghĩa về khoa học và cũng cần quan điểm về mặt triết lý nhân sinh để xác định lẽ sống (lý tưởng), lối sống và nếp sống (giá trị và hành vi)? Đã từng có một cảm quan về văn hóa từ những trải nghiệm thực tế là, văn hóa, nhất là văn hóa tinh thần dường như là một cái gì đó đã định hình sâu sắc và bền vững, “đã làm tổ” trong tâm hồn con người, thành một nhu cầu, một khát vọng thúc đẩy, rằng, văn hóa là cái gì còn lại, đọng lại, dù có quên đi cũng không quên được. Nhận xét này có hạt nhân hợp lý, phản ánh chiều sâu của đời sống nội tâm thuộc về thế giới tinh thần của con người, dẫn dắt sự tinh tế trong ứng xử, nhưng nó không thỏa mãn lý tính của tư duy khoa học. Nó nghiêng về cảm nhận một triết lý sống hơn là sự “giải phẫu” cơ cấu nội tại của văn hóa để hình thành một định nghĩa khoa học.

Văn hóa phải là kết quả của hoạt động sản xuất mà sản xuất (sáng tác, sáng tạo, chế tạo) là tạo ra sản phẩm văn hóa, hoặc vật chất hoặc tinh thần. Văn hóa được coi là hoạt động thuộc bản chất của con người, vượt lên trên bản năng và chỉ có trong môi trường các quan hệ xã hội chứ không phải bầy đàn. Thông qua hoạt động mới sản sinh ra văn hóa nhưng không phải bất kỳ hoạt động nào cũng tương dung với văn hóa. Chỉ những hoạt động nào của chủ thể người hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ mới được xem là văn hóa, bởi thế hoạt động văn hóa là hoạt động sáng tạo ra các giá trị, biểu đạt một cách phổ quát là chân - thiện - mỹ.

Văn hóa bộc lộ nhân tính, tức là những sức mạnh bản chất của con người và nhân loại. Con người và loài người sáng tạo ra văn hóa, đến lượt nó, văn hóa góp phần “sáng tạo ra con người” với nghĩa là làm phong phú tính người, làm phát triển và hoàn thiện nhân cách. Văn hóa định hướng cho phát triển đồng thời là động lực và mục tiêu của phát triển mà mọi sự phát triển của xã hội đều phải dẫn tới phát triển con người, giá trị cao nhất của văn hóa, giá trị của mọi giá trị. Vậy nên, văn hóa là thước đo về trình độ người trong phát triển. Đó là mặt cá thể nhưng có tính phổ biến. Mỗi dân tộc, quốc gia - dân tộc, sáng tạo ra một nền văn hóa, với sự đa dạng văn hóa, nhất là ở những nước có kết cấu đa dân tộc, liên quan đến những sự khác biệt độc đáo, đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc - tộc người. Văn hóa, trong đặc trưng bản chất của nó là thống nhất trong đa dạng, thống nhất từ vô số những khác biệt. Đồng nhất văn hóa vào một cái duy nhất, làm nghèo nàn tính tư tưởng, tính biểu cảm của văn hóa sẽ dẫn tới sự đơn điệu, nó xa lạ với phát triển, dẫn tới “cái chết” của văn hóa. Văn hóa dân tộc được ví như tấm căn cước, diện mạo tinh thần của dân tộc, để dân tộc đó đến với thế giới thông qua hội nhập, để tiếp biến và phát triển. Mỗi dân tộc đều có thể và cần phải đem những tinh túy nhất, những tư tưởng, những giá trị văn hóa của dân tộc mình vào di sản văn hóa chung của toàn nhân loại, cùng chia sẻ, cùng hợp tác để cùng phát triển trên tinh thần khoan dung văn hóa.

Văn hóa khoan dung hướng tới dân chủ  - đoàn kết - đồng thuận, làm nên sức mạnh của hòa bình và tình hữu nghị. Bản chất, đặc trưng ấy của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại làm cho nội sinh văn hóa kết hợp được với ngoại sinh thông qua hội nhập để hợp tác, học hỏi lẫn nhau, phát huy lẫn nhau để thúc đẩy sự phát triển trong hòa đồng, đạt tới sự hài hòa.

Để có cơ sở cho nhận thức và vận dụng sức mạnh nội sinh của văn hóa vào công cuộc chấn hưng dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước, cần quán triệt quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa. Người đã từng viết trong Nhật ký trong tù rằng, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với mọi biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1).

Từ quan niệm về văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp đó, Người trù tính xây dựng nền văn hóa dân tộc với năm điểm lớn:

1. Xây dựng tâm lý: với tinh thần độc lập tự cường.

2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4. Xây dựng chính trị: dân quyền.

5. Xây dựng kinh tế(2).

Trù tính này là rất toàn diện, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó hàm ý xây dựng văn hóa phải đặc biệt chú trọng tới đạo đức, lấy nhân dân là chủ thể phục vụ lợi ích và quyền lực nhân dân, do đó phải chú trọng đến dân chủ, dân quyền trong nhà nước pháp quyền mà nhân dân làm chủ. Xây dựng văn hóa phải chú trọng giáo dục cho mọi người lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự cường. Xây dựng kinh tế cũng nhằm vào phát triển, phục vụ cuộc sống của người dân.

Vậy cần nhận thức như thế nào về sức mạnh nội sinh của văn hóa để chủ động xây dựng và phát triển, vận dụng và phát huy nó trong đời sống hằng ngày, làm cho văn hóa thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc, đặc biệt là chấn hưng đạo đức, hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay.

Nói tới văn hóa là nói tới sự hiểu biết (nhận thức và tự nhận thức) và hành động của con người hướng tới những gì tích cực, tiến bộ, tốt đẹp để phát triển nhân tính. “Tri để hành”, “tiến hành hậu thuyết” là vì vậy. Ở đây, trong hoạt động của con người, C.  Mác đề cập tới một loạt các khái niệm: “tự biểu hiện”, “tự thể hiện”, “tự phát triển”, “tự khẳng định” trong “tồn tại người”. Nó khác căn bản với tồn tại vật, bởi chỉ có chủ thể người mới có hoạt động sống mang đặc trưng cơ bản là sự sáng tạo và đổi mới, luôn luôn đổi mới.

Trong những năm mở đầu công cuộc đổi mới của đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng - nhà văn hóa lớn, đã viết một tác phẩm bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới, nhấn mạnh rằng, văn hóa là đổi mới và đổi mới là một sự nghiệp kiến tạo, phát triển văn hóa.

Văn hóa luôn biểu đạt một quan niệm có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, đó là sự trau dồi, rèn luyện những đức tính, phẩm cách, phẩm giá của con người để sống đúng, sống tốt và sống đẹp. Đó là sự tu dưỡng và tự tu dưỡng cho nên người, thành người, để sống hữu ích cho mình và cho đời. “Làm người” và “ở đời” sao cho “thân dân” và “chính tâm” như ông cha ta từ xưa vẫn thường tâm niệm và đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã nâng tư tưởng “thân dân” tới dân chủ và “chính tâm” là cần kiệm liêm chính - bốn đức của người cách mạng để suốt đời thực hành đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Văn hóa dựa trên nền tảng của học vấn, học thức nên bắt đầu từ “chân”, tiếp thu tri thức (kinh nghiệm và lý luận) để nhận biết chân lý, vươn tới khoa học. Song cốt yếu của văn hóa là ở đạo đức, đạo lý, đạo nghĩa nên đức là cái gốc của nhân cách làm người và đạo đức hướng vào cái “thiện”, đạo đức là nòng cốt, chủ đạo của văn hóa. Nói tới văn hóa, trước hết và nổi bật là đạo đức, là văn hóa đạo đức. Chân và thiện dẫn tới mỹ, đó là cái đẹp, là thẩm mỹ, là thẩm mỹ hóa đời sống và nâng con người cả trí tuệ lẫn tâm hồn lên tầm của cái đẹp. Bi-ê-lin-xky, nhà mỹ học nổi tiếng của nước Nga, từ mấy thế kỷ trước đã từng nói “cái đẹp chính là cuộc sống”. Trong cấu trúc của văn hóa, đặc biệt là văn hóa tinh thần, có sự kết hợp hài hòa chân - thiện - mỹ, đó là những giá trị đặc trưng, chuẩn mực của khoa học - đạo đức và nghệ thuật tạo nên văn hóa. Con người sáng tạo ra văn hóa như C. Mác nói, sáng tạo ra lịch sử, ra “một tự nhiên thứ hai” của mình theo quy luật của cái đẹp như một tác phẩm nghệ thuật của mình. Gương mặt tinh thần của mỗi dân tộc phản ánh văn hóa của dân tộc ấy. Sức mạnh nội sinh của văn hóa nằm ở chiều sâu văn hóa của dân tộc, trong bề dày truyền thống của nó trong lịch sử, nuôi dưỡng tâm hồn và bồi dưỡng nhân cách, phẩm giá con người.

Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/suc-manh-la-gi-trong-van-hoc-a47056.html