Blog PhamTon năm thứ mười bảy, kỳ 2 tháng 9 năm 2025.
Phạm Tôn
Em Tuyền tôi là con cậu Tuyên, sinh ngày 11/5/1958 tại Nam Ninh khi vợ chồng cậu cùng làm việc tại Khu học xá Trung ương và kết hôn tại Trung Quốc. Em nhỏ hơn tôi 18 tuổi. Sau khi về nước, cậu được phân công về làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam, chủ yếu “trực chiến” tại Hà Nội, nhưng thường phải đi công tác xa, có khi dài ngày. Vợ cậu được về trường Học sinh Miền Nam đóng tại Hải Phòng. Năm 1965, chiến tranh lan ra miền Bắc. Sau một thời gian vừa dạy học và học thêm về tâm lý học, vừa chăm con, quá vất vả, vợ cậu đành mang con về Hà Nội gửi mẹ tôi. Cậu nhờ tôi trông nom, dạy dỗ em. Từ đó anh em tôi gắn bó với nhau hơn với những anh em họ khác.
Tôi dạy em đánh răng “theo khoa học”, không chà ngang mà xoay tròn hoặc chải răng từ trên xuống, điều mà ngày nay tất cả trẻ em đều biết. Em tự chải đầu xong, đứng trước tôi, ngửa mặt lên. Tôi biết em muốn tôi cài hộ em cái lược xước (cái bờm) cho gọi gàng, tự em không làm được. Cũng như cậu đã dạy tôi học đánh vần trước khi đi học, tôi cũng dạy em học tiếp lớp 1 và bảo em học thuộc lòng các bài thơ dễ hiểu trong Nhật ký trong tù hồi ấy mới xuất bản. Em đọc làu làu, giọng ê a rất dễ thương Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không/ Cô em xóm núi xay ngô tối / Xay hết lò than đã rực hồng… hoặc Gạo đem vào giã bao đau đớn / Gạo giã xong rồi trắng tựa bông / Sống ở trên đời người cũng vậy / Gian nan rèn luyện mới thành công. Mẹ tôi vốn thích văn thơ, khen em đọc thơ hay.
Cậu giao tiền cho tôi sáng sáng hai anh em đi mua sờ đờ nờ. Đó là cách nói “bí mật” của anh em tôi, có nghĩa là sữa đậu nành. Tôi dắt em ra gần chợ Cửa Nam, ghé vào quán một ông Tầu mua hai cốc sữa đậu nành nóng hổi và hai cặp cháo quẩy. Đường thì tôi mang theo, không gửi lại quán như nhiều khách quen, vì sợ có hôm không đi, em ăn sáng ở nhà mà cần đường. Đường cũng là của cậu đưa. Đường của nhà tôi chỉ đủ để nấu ăn.
Ngoài việc bảo em tập chép, đọc thơ và làm toán cộng, trừ, tôi còn giao em làm những việc nhà, theo nguyên tắc tuổi nhỏ làm việc nhỏ, không ai ngồi không nhìn người khác đầu tắt mặt tối vì mình. Tôi giao cho em việc đong gạo cho bà cô tôi, còn lớn tuổi hơn mẹ tôi, lo việc cơm nước cho cả nhà. Mẹ tôi làm việc ở hợp tác xã may. Một hôm cả nhà ăn cơm xong rồi mà em Tuyền vẫn xới thêm cơm ăn mà nước mắt lưng tròng. Tôi hỏi thì em òa khóc. Em đong nhầm gạo rồi, cơm còn thừa nhiều quá, em cố ăn cho hết mà không nổi. Em vừa khóc vừa kể lể. Mẹ tôi thương quá, lau mặt cho em và nói là hôm nay trời nóng, mỗi người ăn bớt đi một ít thành ra thừa thôi, không phải tại cháu đâu.
Chủ nhật, mẹ tôi nghỉ làm, thường đi thăm dì, kém mẹ hai tuổi. Bấy giờ anh chị tôi mới sinh con đầu lòng, đi công tác xa cũng gửi mẹ tôi trông. Thế là chủ nhật mẹ tôi bế cháu gái, em Tuyền nắm tay bác còn tay kia xách một cái làn cói đựng tã, lót, sữa cho bé. Cả ba lên tàu điện ở phố Hàng Bông, đi đến ga Bờ Hồ thì xuống đi bộ đến nhà số 47 phố Lò Sũ. Tuyền lại tay nắm tay bác, tay xách làn đồ. Đến nhà bà dì thì em mệt, nằm ngay ra ghế tràng kỷ ngủ ngon lành. Mẹ và dì tôi như đôi bạn, chuyện trò không ngớt, đến lúc em bừng tỉnh nói to cái làn đâu rồi, hai bà mới nhớ là em có mặt. Em vội đứng dậy, xách cái làn, xem lại mọi đồ trong làn có còn nguyên vẹn không rồi mới nằm xuống ghế ngủ tiếp. Cả hai bà cùng cười, khen con bé ngoan.
Em đi chơi về, vui vẻ lắm, khoe là nhà giàu thích thật, cái gì cũng có, có cả máy làm kem… Tôi hỏi thế em thích ở nhà giàu hay ở nhà anh nghèo, thì em đứng nghiêm, hai chân chụm lại, chỉ tay vào mặt tôi, chìa ra ngón trỏ xinh xinh, rồi cười khì mà nói Em thích ở nhà anh. Cặp mắt đen nhánh tròn to tinh nghịch.
Từ năm bảy tuổi ấy, em đã rất chú ý coi trọng lời nói của mình. Tôi nhớ mãi cái cách em đến gần nói chậm mà rõ em nói thế này nhé. Sau đó mới nói điều muốn nói.
Sau này, em đi học rồi ra công tác, tôi lại vào thành phố Hồ Chí Minh, nên anh em không mấy khi gặp nhau. Năm 1983, bố mẹ em gửi cho mẹ tôi thiếp cưới các em, đúng lúc vợ chồng tôi mới sinh con đầu lòng. Từ đó, khi thì chồng em, khi thì em có vào Nam công tác đều ghé thăm tôi. Có năm hai vợ chồng đều là tiến sĩ dầu khí vào công tác tại Vũng Tàu, đã đón con trai tôi ra chơi Vũng Tàu, ở nhà chuyên gia sang trọng, còn cho lên cả tượng Chúa. Lần mẹ em vào Sài Gòn công tác bị ốm nặng do biến chứng tiểu đường phải nằm bệnh viện Thống Nhát, chồng em bấy giờ đang ở trong này liền lấy nhà tôi làm “căn cứ hậu cần”, vợ tôi nấu cháo dinh dưỡng rồi chồng em dùng xe đạp của tôi mang vào cho mẹ em. Sau này, có lần em ghé nhà tôi, đưa cho một thùng to bưởi diễn, nói vài câu chuyện rồi phải đi vội kẻo lái xe cơ quan nó chờ. Bao giờ chia tay em cũng nhìn tôi, cười khì rồi đi như hồi bé còn ở nhà tôi. Có lần em gọi con trai tôi ra sân bay, đem về một thùng sấu có cả cái cạo vỏ và bày cho con tôi cách làm nước sấu giầm uống cho mát trong mùa hè miền Nam. Em phải đi Vũng Tàu ngay, không ghé thăm tôi được.

Cuối năm 2000, mẹ tôi ốm nặng, anh cả tôi vào Bạc Liêu mấy hôm rồi vừa lên đến nhà tôi thì lại có tin nhắn về Bạc Liêu gấp. Gia đình tôi thương mẹ lắm nhưng chưa biết làm sao vì tôi quá ốm yếu. Vừa lúc ấy em Tuyền xuất hiện, nói là anh chị có đi xuống bác không, em cũng muốn đi thăm bác lắm mà lâu nay không đi được. Hôm nay em có xe. Đi luôn trưa nay đi. Thế là gia đình tôi cùng em đi Bạc Liêu. Tôi say xe, xe chạy là nôn thốc nôn tháo ra cái bao ni lông, nhìn rõ mật xanh rồi mật vàng. Đến chỗ nghỉ, mọi người ăn, tôi cũng ăn nhưng ăn bánh mì không. Anh lái xe bảo bác ăn làm gì cho mất công. Kỳ thật tôi lo là đi thăm mẹ ốm nặng mà có khi đến nơi mình lại vào cấp cứu. Vì đã có kinh nghiệm xương máu năm 1998, hạ đường huyết sinh xê tôn máu, may mà thoát chết. Thăm mẹ ở bệnh viện thấy mẹ đã hôn mê, tôi về nhà em gái nghỉ, để lại con tôi chăm bà cùng với con gái út em tôi. Em Tuyền chào hỏi xong cũng lên xe về Sài Gòn, từ đó đi tàu cánh ngầm ra họp ở Vũng Tàu, hẹn ngày đưa tang sẽ về. Trưa hôm ấy, bệnh viện cho đưa mẹ tôi về nhà, và đến tối ấy thì mẹ ra đi. Em trai tôi biết tin, bay vào Sài Gòn ngay nhưng xe đi Bạc Liêu hỏng giữa đường, cho nên không được gặp mẹ. Nhờ em Tuyền mà gia đình tôi đến vừa kịp. Con tôi còn kể là hai anh em chăm sóc bà, cháu gái nói bà ơi đích tôn của bà về thăm bà đây thì mẹ tôi chớp chớp mắt mấy cái rồi nhắm luôn. 11:20 tối 16/12/2000, mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng. Khi em trai tôi đến nơi thì chỉ còn nghe tiếng con chim lợn bay đi bay lại trên mái nhà nơi đặt mẹ tôi nằm, thốt lên những tiếng kêu ai oán.
Cuối năm 2014, em Tuyền đột ngột ghé nhà tôi vào lúc 9 giờ tốt, nói rằng em có việc gấp phải ra Hà Nội ngay sáng mai, nhưng có việc này nhất định phải cho anh xem. Rồi em mở máy tinh bảng ra cho tôi xem việc xây dựng Bia tưởng niệm nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở Hải Dương. Tôi bảo biết rồi, thì em bảo còn cái này anh phải xem cơ. Em cho xem một khu sau bia tưởng niệm, nói là anh tôi bảo còn một chỗ trống rất đẹp, đủ xây một bức tường đá đen, nhưng dựng thì phải ghi trên đó một câu gì của Ông chứ, vì thế em đến là để hỏi anh. Mai em đi rồi. Có gì anh liên lạc với anh anh. Thế là tôi thức trắng đêm ấy, lục tìm tư liệu, cuối cùng ra câu trong bài viết dở dang cuối cùng của Ông tôi: Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia.

Rồi ngày 26/6/2016, tại khuôn viên chùa Vạn Phước, lại diễn ra lễ khánh thành khu lăng mộ Nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã được chỉnh trang và dựng tượng. Tại khu mộ có cuốn thư cũng ghi câu trên. Người thiết kế chỉnh trang tôn tạo khu mộ là anh tôi. Người lo quản lý việc xây cất, vận chuyển các bức đá khắc chữ và tượng đá từ Chùa Trầm về Huế lại là em Tuyền tôi. Số em vất vả mà. Em toàn làm những việc không tên, em tự nhiên như nước và không khí, những thứ chỉ khi chết khát chết ngạt người ta mới biết là quý giá vô cùng.

Xong mọi việc về Ông Nội, em Tuyền tôi mới đến bệnh viện Lão Khoa. Cháu gái tôi, thạc sĩ bác sĩ Tôn Hương Giang kể là cháu nhắc cô ấy nhiều lần lắm rồi, nhưng bao giờ cô ấy cũng bảo là bận, xong việc sẽ đến ngay. Nhưng khi cô ấy đến thì đã suy tim ở giai đoạn cuối rồi. Chúng cháu không làm gì được nữa.
Giống hệt như mẹ em. Làm việc, viết hồi ký, hướng dẫn làm luận án cho nghiên cứu sinh cao học rồi khi thấy mệt, vào bệnh viện thì nhắm mắt, không nói năng gì, cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.
Em Tuyền tôi thật thà, trung thực giản dị và đặc biệt là có tinh thần trách nhiệm rất cao, chỉ ra đi khi đã làm tròn trách nhiệm mà mình tự nhận lấy ở đời. Em đã làm trọn nghĩa vụ làm cháu nội của học giả Phạm Quỳnh theo cách của em.
Tôi nhớ mãi những lần gặp em, nhất là những ngày sống cùng em từ hồi em còn thơ bé.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/9/2018 (16 tháng tám ta)
P.T.
Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/gao-dem-vao-gia-bao-dau-don-a49385.html