Trang này nhằm cung cấp thông tin tổng quát về Open Space Taxation (Đạo Luật Đánh Thuế Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt) được mô tả trong chương 84.34 Bộ Luật Sửa Đổi của Washington (Revised Code of Washington, RCW) và chương 458-30 Bộ Luật Hành Chính Washington (Washington Administrative Code, WAC). Thông tin này là thông tin hiện hành tại thời điểm xuất bản. Xin lưu ý rằng các thay đổi về luật sau này có thể thay thế hoặc làm mất hiệu lực một số thông tin có trong tài liệu này.
Đạo Luật Đánh Thuế Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt được ban hành năm 1970, qua đó cho phép các chủ sở hữu tài sản thông qua một bên khác để xác định giá trị của vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt, đất canh tác và làm nông nghiệp cũng như đất trồng cây lấy gỗ của họ theo mục đích sử dụng hiện tại thay vì mục đích sử dụng có giá trị cao nhất và tốt nhất của mảnh đất.
Theo quy định của đạo luật này, để đảm bảo lợi ích tối đa của tiểu bang, phải duy trì, bảo tồn, giữ gìn nguyên vẹn và mặt khác, tiếp tục gìn giữ những vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt thích hợp cho hoạt động sản xuất cây lương thực, cây lấy sợi và cây trồng rừng, đồng thời đảm bảo việc sử dụng và thụ hưởng tài nguyên thiên nhiên và danh lam thắng cảnh vì phúc lợi kinh tế và xã hội của tiểu bang và cư dân tại tiểu bang đó.
Luật này xác định ba danh mục đất cụ thể đủ điều kiện để phân loại theo mục đích sử dụng hiện tại:
1. Vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt
Nói chung, danh mục này áp dụng cho vùng đất mà nếu giữ được mục đích sử dụng hiện tại thì sẽ mang lại lợi ích công cộng, ví dụ như bảo tồn đất hoặc nước, bảo tồn động vật hoang dã, di tích lịch sử, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cơ hội giải trí. Danh mục này cũng bao gồm “đất bảo lưu phân loại là đất canh tác và làm nông nghiệp” đối với mảnh đất vẫn luôn được sử dụng cho mục đích nông nghiệp trong quá khứ và có khả năng cao sẽ quay về phục vụ hoạt động nông nghiệp trong tương lai. Để biết thêm thông tin về danh mục này, hãy xem Phụ Lục I: Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt.
Phụ Lục I: Phân Loại - Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên BiệtVùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt được định nghĩa trong RCW 84.34.010(1) là:
A. Diện tích đất bất kỳ được quy vùng thành đất không phục vụ mục đích chuyên biệt theo kế hoạch sử dụng đất toàn diện chính thức được bất kỳ thành phố hoặc quận nào thông qua. B. Bất kỳ diện tích đất nào mà ở đó công tác bảo tồn theo mục đích sử dụng hiện tại sẽ:
C. Bất kỳ mảnh đất nào thỏa mãn định nghĩa “đất bảo lưu phân loại là đất canh tác và làm nông nghiệp” sẽ mang một trong hai nghĩa sau:
Quy trình nộp đơn: Đơn xin cấp phân loại vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt phải được nộp cho Cơ Quan Lập Pháp Quận (County Legislative Authority, CLA). CLA thường bao gồm các ủy viên hội đồng quận hoặc hội đồng quận (tùy thuộc vào từng quận); các khu vực hợp nhất của quận thường kết hợp đại diện của Thành Phố và Quận. Đôi khi, CLA sẽ chỉ đạo bộ phận phát triển cộng đồng duyệt xét các đơn xin cấp, kiểm tra bất động sản và chỉ đạo nên từ chối hay phê duyệt đơn xin cấp.
Phiên điều trần công khai: Trừ khi mảnh đất trong đơn xin cấp thuộc kế hoạch sử dụng đất toàn diện, sẽ có một phiên điều trần công khai về đơn xin cấp và thông báo về phiên điều trần đó phải được ban hành ít nhất 10 ngày trước khi diễn ra phiên điều trần. Nếu mảnh đất đang xin cấp phân loại thuộc kế hoạch toàn diện đã được bất kỳ thành phố hoặc quận nào thông qua, thì thủ tục sẽ được xử lý theo cách tương tự như thủ tục sửa đổi kế hoạch toàn diện.
Phê duyệt hoặc từ chối: CLA phải phê duyệt hoặc từ chối đơn xin cấp trong vòng sáu tháng kể từ khi nhận được đơn. Trong khi duyệt xét có nên phê duyệt liệu đơn xin phân loại hoặc phân loại lại hay không, cơ quan có thẩm quyền cấp có thể cân nhắc lợi ích đối với phúc lợi chung của việc giữ mục đích sử dụng hiện tại của bất động sản. Họ có thể yêu cầu phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, bao gồm nhưng không giới hạn việc cấp quyền sử dụng đất.
Nếu được phê duyệt, CLA sẽ chuẩn bị Thỏa Thuận Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt, trong đó bao gồm tất cả các điều kiện phê duyệt, nêu rõ cách thức có thể sử dụng đất được phân loại và quy định rõ bất kỳ hành động nào dẫn đến việc thu hồi phê duyệt. Trong vòng năm (5) ngày dương lịch kể từ ngày phê duyệt, CLA phải gửi thỏa thuận đó cho người nộp đơn. Sau đó, người nộp đơn có thể chấp nhận hoặc từ chối thỏa thuận đó. Để chấp nhận thỏa thuận đó, người nộp đơn phải ký tên và gửi lại thỏa thuận cho CLA trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được.
Phê duyệt hay từ chối đơn xin cấp phân loại vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt là quyết định của cơ quan lập pháp và chỉ có thể được xem xét lại trong trường hợp hành động tùy tiện và thiếu công bằng. Chỉ có thể kháng cáo quyết định trên tại tòa thượng thẩm của quận nơi nộp đơn xin cấp.
Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phân loại đất từ CLA, thẩm định viên sẽ gửi thông báo cho kiểm toán viên quận để ghi nhận tại địa điểm và theo cách thức được quy định cho việc ghi nhận công khai quyền nắm giữ tài sản vì nợ thuế của tiểu bang.
Định Giá: Vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt ở một quận đã áp dụng hệ thống xếp hạng lợi ích công cộng sẽ được định giá theo các tiêu chí của hệ thống xếp hạng đó. Trong trường hợp không có hệ thống định giá, giá trị trên mỗi mẫu Anh không được thấp hơn giá trị thấp nhất trên mỗi mẫu Anh của đất canh tác và làm nông nghiệp được phân loại trong quận đó.
Hệ Thống Xếp Hạng Lợi Ích Công Cộng (PBRS): Nếu cơ quan lập pháp quận đã thiết lập hệ thống xếp hạng lợi ích công cộng (Public Benefit Rating System,PBRS) để phân loại vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt, các tiêu chí trong hệ thống xếp hạng đó sẽ điều chỉnh tình trạng đủ điều kiện và định giá của mảnh đất trong đơn xin cấp.
Khi quận phát triển hoặc sửa đổi PBRS, tất cả các vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt sẽ được xếp hạng theo PBRS mới. Mảnh đất không còn đủ điều kiện để được phân loại sẽ không bị xóa khỏi phân loại, nhưng sẽ được xếp hạng theo PBRS. Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo về giá trị thẩm định mới do PBRS xác lập, chủ sở hữu có thể yêu cầu xóa bỏ phân loại của mảnh đất mà không phải chịu thêm thuế, tiền lãi và tiền phạt.
2. Đất canh tác và làm nông nghiệp
Danh mục này dành riêng cho đất chuyên được sử dụng cho mục đích nông nghiệp thương mại. Chủ sở hữu phải chứng minh được ý định tiếp tục thu tiền lợi nhuận từ thu nhập bằng tiền mặt do sản xuất nông sản trên đất đã phân loại. Các hoạt động canh tác trên diện tích ít hơn 20 mẫu Anh cũng phải đáp ứng một số yêu cầu về thu nhập tối thiểu. Các nguồn thu nhập đủ điều kiện sẽ khác nhau, tùy thuộc vào tổng số mẫu Anh được phân loại. Để biết thêm thông tin về danh mục này, hãy xem Phụ Lục II: Canh Tác & Nông Nghiệp.
Phụ Lục II: Phân Loại - Canh Tác & Nông Nghiệp
Đất canh tác và làm nông nghiệp được định nghĩa trong RCW 84.34.010(2) là:
A. Bất kỳ thửa đất nào có diện tích từ 20 mẫu Anh trở lên hoặc nhiều thửa đất liền kề và có tổng diện tích từ 20 mẫu Anh trở lên và:
B. Bất kỳ thửa đất nào có diện tích từ 5 mẫu Anh trở lên nhưng nhỏ hơn 20 mẫu Anh, chủ yếu phục vụ mục đích nông nghiệp và đã tạo ra tổng thu nhập tương đương:
C. Bất kỳ thửa đất nào có diện tích từ năm mẫu Anh trở lên nhưng nhỏ hơn 20 mẫu Anh, chủ yếu phục vụ mục đích nông nghiệp và có cây trồng hiện chưa thu hoạch với thời gian thu hoạch dự kiến là:
D. Đối với các thửa đất có diện tích từ năm mẫu Anh trở lên nhưng nhỏ hơn 20 mẫu Anh, “tổng thu nhập từ mục đích nông nghiệp” bao gồm nhưng không giới hạn:
E. Bất kỳ thửa đất nào có diện tích chưa tới năm mẫu Anh, chủ yếu phục vụ mục đích nông nghiệp và đã tạo ra tổng thu nhập ở mức:
F. “Đất canh tác và làm nông nghiệp” cũng bao gồm bất kỳ tiêu chí nào sau đây:
Quy trình nộp đơn: Đơn xin cấp phân loại Canh Tác & Làm Nông Nghiệp phải được nộp cho thẩm định viên quận để xin phê duyệt. Khi xem xét đơn xin cấp, thẩm định viên có thể yêu cầu người nộp đơn cung cấp dữ liệu liên quan đến việc sử dụng đất, bao gồm nhưng không giới hạn năng suất của các loại cây trồng thông thường, biên lai bán hàng, tờ khai thuế thu nhập liên bang, các dữ liệu thu nhập và chi phí khác có liên quan, và bất kỳ thông tin nào khác liên quan đến đơn xin cấp.
Phê duyệt hoặc từ chối: Đơn xin cấp sẽ được coi là đã được phê duyệt, trừ khi thẩm định viên thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn trước ngày 1 tháng 5 của năm sau năm nộp đơn. Chủ sở hữu có thể kháng cáo quyết định từ chối của thẩm định viên lên hội đồng quân bình ở quận nơi có mảnh đất đó. Đơn kháng cáo phải được nộp cho hội đồng vào hoặc trước ngày 1 tháng 7 của năm ra quyết định hoặc trong vòng 30 ngày sau khi gửi thông báo từ chối, hoặc trong thời hạn tối đa 60 ngày do cơ quan lập pháp quận quy định, tùy theo thời điểm nào muộn hơn.
Định Giá: Khi xác định giá trị sử dụng hiện tại của đất canh tác và làm nông nghiệp, thẩm định viên cân nhắc thu nhập hoặc năng suất của các vùng đất tương đương từ các loại cây trồng được trồng phổ biến nhất trong khu vực, tính theo mức trung bình trong thời gian không ít hơn năm năm. Thu nhập hoặc năng suất này là “tiền thuê ròng” và được tính bằng “lãi suất” được tính trên các khoản vay dài hạn được bảo đảm bằng tài sản thế chấp trên đất canh tác hoặc làm nông nghiệp cộng với một phần thuế tài sản.
Ủy ban cố vấn: Cơ quan lập pháp quận phải chỉ định một ủy ban gồm năm thành viên đại diện cho cộng đồng làm nông nghiệp đang hoạt động trong quận. Ủy ban này sẽ đóng vai trò cố vấn cho thẩm định viên trong việc thực hiện các nguyên tắc hướng dẫn thẩm định do Department of Revenue (Sở Thuế Vụ Tiểu Bang) thiết lập để thẩm định vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt, đất canh tác và làm nông nghiệp, và đất trồng cây lấy gỗ.
3. Đất trồng cây lấy gỗ Danh mục thứ ba dành cho đất có diện tích từ năm mẫu Anh trở lên được sử dụng để trồng và thu hoạch gỗ cho mục đích thương mại. Để biết thêm thông tin về danh mục này, hãy xem Phụ Lục III: Cây Lấy Gỗ.
Phụ Lục III: Phân Loại - Cây Lấy Gỗ
Đất trồng cây lấy gỗ được định nghĩa trong RCW 84.34.020(3) là:
Bất kỳ thửa đất nào từ năm mẫu Anh trở lên hoặc nhiều thửa đất liền kề và có tổng diện tích từ năm mẫu Anh trở lên, chủ yếu phục vụ mục đích trồng và khai thác cây lấy gỗ cho mục đích thương mại. Định nghĩa đất trồng cây lấy gỗ chỉ bao gồm mảnh đất và không bao gồm vị trí dựng nhà ở. Thuật ngữ này bao gồm mảnh đất dùng cho các mục đích sử dụng phụ, phù hợp với việc trồng và khai thác cây lấy gỗ nhưng không được dùng quá 10% diện tích đất cho những mục đích sử dụng phụ đó.
Đất trồng cây lấy gỗ cũng bao gồm mảnh đất hiện có các công trình phụ cần thiết cho hoạt động sản xuất, xử lý sơ bộ hoặc bán sản phẩm làm từ gỗ, gắn liền với mảnh đất tạo ra những sản phẩm đó.
Một số quận có thể không áp dụng phân loại đất trồng cây lấy gỗ. Do Senate Bill 6180 (Dự Luật Thượng Viện 6180) được thông qua vào năm 2014, các quận có thể gộp phân loại đất trồng cây lấy gỗ vào chương trình đất lâm nghiệp được chỉ định của họ theo chương 84.33 RCW. Để xác định xem quận của quý vị có phân loại đất trồng cây lấy gỗ không, quý vị có thể liên hệ với thẩm định viên quận hoặc truy cập trang web của Sở Thuế Vụ Tiểu Bang tại địa chỉ www.dor.wa.gov.
Quy trình nộp đơn: Đơn xin cấp phân loại hoặc phân loại lại đất trồng cây lấy gỗ phải được nộp cho Cơ Quan Lập Pháp Quận (CLA). CLA thường bao gồm các ủy viên hội đồng quận hoặc hội đồng quận (tùy thuộc vào từng quận); các khu vực hợp nhất của quận thường kết hợp đại diện của Thành Phố và Quận. Phải có kế hoạch quản lý cây lấy gỗ tại thời điểm nộp đơn hoặc khi có giao dịch mua bán hoặc chuyển nhượng đất trồng cây lấy gỗ, và khi có thông báo tiếp tục được ký kết.
Người nộp đơn phải cung cấp thông tin về việc quản lý rừng, tái trồng rừng, phòng cháy chữa cháy, kiểm soát sâu bệnh, kiểm soát cỏ dại, cũng như bản tóm tắt kinh nghiệm và hoạt động hỗ trợ việc trồng và khai thác cây lấy gỗ cho mục đích thương mại.
Phiên điều trần công khai: Trừ khi mảnh đất trong đơn xin cấp thuộc kế hoạch sử dụng đất toàn diện, sẽ có một phiên điều trần công khai về đơn xin cấp và thông báo về phiên điều trần đó phải được ban hành ít nhất 10 ngày trước khi diễn ra phiên điều trần. Nếu mảnh đất đang xin cấp phân loại thuộc kế hoạch toàn diện đã được bất kỳ thành phố hoặc quận nào thông qua, thì thủ tục sẽ được xử lý theo cách tương tự như thủ tục sửa đổi kế hoạch toàn diện.
Phê duyệt hoặc từ chối: CLA phải phê duyệt hoặc từ chối đơn xin cấp trong vòng sáu tháng kể từ khi nhận được đơn. Nếu được phê duyệt, CLA sẽ chuẩn bị Thỏa Thuận Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt, trong đó bao gồm tất cả các điều kiện phê duyệt, cách thức có thể sử dụng đất được phân loại và bất kỳ hành động nào dẫn đến việc thu hồi phê duyệt. Trong vòng năm (5) ngày dương lịch kể từ ngày phê duyệt, CLA phải gửi thỏa thuận đó cho người nộp đơn. Sau đó, người nộp đơn có thể chấp nhận hoặc từ chối thỏa thuận đó. Để chấp nhận thỏa thuận đó, người nộp đơn phải ký tên và gửi lại thỏa thuận cho CLA trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được.
Phê duyệt hay từ chối đơn xin cấp phân loại đất trồng cây lấy gỗ là quyết định của cơ quan lập pháp và chỉ có thể được xem xét lại trong trường hợp hành động tùy tiện và thiếu công bằng. Chỉ có thể kháng cáo quyết định trên tại tòa thượng thẩm của quận nơi nộp đơn xin cấp.
Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo phân loại đất từ cơ quan có thẩm quyền cấp, thẩm định viên sẽ gửi thông báo cho kiểm toán viên quận để ghi nhận tại địa điểm và theo cách thức được quy định cho việc ghi nhận công khai quyền nắm giữ tài sản vì nợ thuế của tiểu bang.
Định Giá: Đất trồng cây lấy gỗ được định giá theo biểu giá do Sở Thuế Vụ quy định theo chương 84.33 RCW. Hàng năm, Sở Thuế Vụ Tiểu Bang điều chỉnh và chứng nhận giá trị đất trồng cây lấy gỗ để thẩm định viên quận sử dụng trong khi lập bảng thẩm định. Thẩm định viên sẽ ấn định giá trị đất trồng cây lấy rừng cho tài sản dựa trên cấp độ đất và loại hình khai thác.
Một số quận có thể không áp dụng phân loại đất trồng cây lấy gỗ. Do Dự Luật Thượng Viện 6180 được thông qua vào năm 2014, các quận có thể gộp phân loại đất trồng cây lấy gỗ vào chương trình đất lâm nghiệp được chỉ định của họ theo chương 84.33 RCW.
Chủ sở hữu hoặc bên mua theo hợp đồng có thể nộp đơn xin thẩm định mục đích sử dụng hiện tại. Tuy nhiên, tất cả các chủ sở hữu hoặc bên mua theo hợp đồng phải ký tên vào đơn xin cấp phân loại cũng như bất kỳ thỏa thuận nào phát sinh theo đó.
Quý vị có thể nộp đơn xin cấp phân loại vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, từ ngày 1 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12. Nếu được phê duyệt, kết quả thẩm định mục đích sử dụng hiện tại sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 của năm sau năm quý vị nộp đơn. Ví dụ: các đơn xin cấp được nhận vào năm 2026 sẽ được phê duyệt để thẩm định mục đích sử dụng hiện tại vào năm 2027, điều này sẽ ảnh hưởng đến thuế phải nộp vào năm 2028.
Quý vị có thể lấy đơn xin cấp phân loại cho cả ba danh mục Vùng Đất Không Phục Vụ Mục Đích Chuyên Biệt tại văn phòng thẩm định viên quận. Đơn xin cấp phân loại cho vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt và đất trồng cây lấy gỗ cũng được cung cấp từ cơ quan lập pháp quận.
Theo quyền quyết định riêng của mình, cơ quan lập pháp của thành phố hoặc quận có thể quy định một khoản phí xử lý cho mỗi đơn xin cấp. Khoản phí này phải đủ để trang trải hợp lý chi phí xử lý đơn xin cấp và thường bao gồm phí ghi nhận các tài liệu phê duyệt.
Thẩm định viên phải duy trì hai giá trị đất đối với mỗi thửa đất được phân loại. Đầu tiên là giá trị được gán cho mảnh đất nếu không được phân loại. Giá trị này thường được gọi là “giá trị thị trường hợp lý”. Thứ hai là giá trị theo mục đích sử dụng hiện tại được dựa trên mục đích sử dụng hiện tại của mảnh đất, mà không phải mục đích có giá trị cao nhất và tốt nhất. Thuế tài sản được tính dựa trên giá trị theo mục đích sử dụng hiện tại của mảnh đất được phân loại.
Mảnh đất sẽ giữ được phân loại cho đến khi xảy ra một trong những trường hợp sau:
Thuế bổ sung, tiền lãi và tiền phạt được áp dụng khi xóa bỏ phân loại, trừ khi việc xóa bỏ là do một trong những trường hợp ngoại lệ được liệt kê trong RCW 84.34.108(6).
Khi bán hoặc chuyển nhượng mảnh đất được phân loại, người bán hoặc người chuyển nhượng sẽ phải chịu trách nhiệm nộp thuế bổ sung, tiền lãi và tiền phạt tại thời điểm bán đất, trừ khi (các) chủ sở hữu mới ký Thông Báo Duy Trì Phân Loại được đính kèm hoặc trình bày trên bản khai có tuyên thệ về thuế tiêu thụ đặc biệt của bất động sản. Kiểm toán viên quận không thể chấp nhận văn kiện chuyển nhượng bất kỳ mảnh đất được phân loại nào, trừ khi Thông Báo Duy Trì Phân Loại đã được ký hoặc thuế bổ sung, tiền lãi và tiền phạt đã được nộp. Thẩm định viên sẽ xác định xem mảnh đất có đủ điều kiện duy trì phân loại hay không.
Có, chủ sở hữu có thể nộp đơn kháng cáo quyết định hủy cấp phân loại đất lên hội đồng quân bình của quận vào hoặc trước ngày 1 tháng 7 trong năm đưa ra quyết định, hoặc trong vòng 30 ngày sau khi thẩm định viên gửi thông báo qua đường bưu điện, hoặc trong thời hạn tối đa 60 ngày do cơ quan lập pháp quận áp dụng, tùy theo thời điểm nào muộn hơn.
Có thể phân loại lại đất theo yêu cầu của chủ sở hữu, tùy thuộc vào tất cả các điều kiện hiện hành dành cho mỗi phân loại. Một số trường hợp phân loại lại sẽ phải chịu thuế bổ sung, tiền lãi và tiền phạt khi rút lại phân loại ban đầu. Một số trường hợp phân loại lại có thể thực hiện mà không phải chịu thuế bổ sung, tiền lãi và tiền phạt, như được liệt kê dưới đây:
Đơn xin phân loại lại được xử lý theo cách tương tự như khi phê duyệt phân loại ban đầu. Thẩm định viên quận phê duyệt tất cả các đơn xin cấp cho đất canh tác và làm nông nghiệp, đồng thời có thể yêu cầu người nộp đơn cung cấp thông tin liên quan đến tính hội đủ điều kiện để phân loại mới. Cơ quan lập pháp quận phê duyệt tất cả các đơn xin cấp phân loại đất trồng cây lấy gỗ và vùng đất không phục vụ mục đích chuyên biệt, bao gồm cả đất bảo lưu phân loại là đất canh tác và làm nông nghiệp.
Quý vị nên tham khảo toàn văn các luật, chương 84.34 Bộ Luật Sửa Đổi của Washington (RCW) và các quy tắc, chương 458-30 Bộ Luật Hành Chính của Washington (WAC) để tìm hiểu yêu cầu của các phân loại và nghĩa vụ thuế phát sinh.
Yêu cầu đối với việc làm đơn xin cấp phân loại theo mục đích sử dụng hiện tại có sẵn tại văn phòng thẩm định viên quận hoặc được cung cấp bằng cách liên hệ cơ quan lập pháp quận.
Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/vung-dat-la-a49876.html