NĂM MỚI CHÚC NHAU | Trần Đình Sử

(TRẦN TẾ XƯƠNG)

Năm mới chúc nhau là một phong tục tốt đẹp có tự ngày xưa. Năm mới, xuân về, đem lại bao điều ước vọng, và người ta chúc nhau trường thọ, lắm lộc, giàu sang, con cái đầy đàn…, ai cũng muốn năm mới sẽ có những cái tốt đẹp nhiều bằng năm bằng mười năm cũ.

Nhưng trong các lời chúc tụng xởi lởi, không mấy dè xẻn ấy, đối với một số người lại thể hiện cái tâm lý tham lam, ích kỷ vô độ rất tầm thường của họ trước cuộc đời. Bởi vì mọi mong ước của họ không ngoài cái tư lợi vật chất cho một mình họ. Họ không mảy may nghĩ đến đất nước, thời cuộc, xã hội. Đối với hạng người ấy, nhà thơ Tú Xương, một người thẳng thắn, cương trực, ghét cay ghét đắng. Ông nhận thấy tính chất viển vông, phi lý đến buồn cười của những lời chúc tụng tốt đẹp kia. Ông tưởng tượng theo lối suy luận, nếu như những lời chúc tụng tư lợi kia mà thành sự thực cả thì xã hội sẽ trở thành một cái gì phi lý, dị dạng và lố bịch, không thể chấp nhận được. Thật vậy, mở đầu bài thơ, tác giả mời mọi người lắng nghe các lời chúc :

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau

“Lẳng lặng” hàm ý yêu cầu mọi người lặng im, chú ý lắng nghe và suy nghĩ. “Nó” là đại từ chỉ hạng người tham lam, tư lợi, đáng khinh bỉ kia :

Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu

Câu chúc vẫn bình thường, không có gì buồn cười cả. Cái tài của tác giả là đẩy sự việc tới cực đoan thành buồn cười : nếu ai cũng trăm tuổi, đầu bạc răng long cả thì sẽ có một xã hội già yếu, toàn những người móm mém, ăn trầu toàn phải dùng cối giã trầu. Lúc ấy “mặt hàng” cối hẳn là rất đắt :

Phen này ông quyết đi buôn cối,

Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

“Quyết đi buôn cối” hẳn là “trúng quả”. Lời thơ đầy mỉa mai, khinh miệt : Sống lâu thì làm đứa giã trầu chứ báu gì !

Nhà thơ tự xưng là “ông” (không phải “ta”, “mình”, “tớ”) đối với hạng người đó, lại xưng những người lụ khụ, móm mém kia bằng “đứa” (không phải “kẻ”), đã biến lời thơ thành tiếng nguyền rủa.

Nếu đổi lại thành :

Phen này mình quyết đi buôn cối,

Thiên hạ bao nhiêu kẻ giã trầu

thì ý mỉa mai không còn, mà sức mạnh của tiếng chửi khinh miệt cũng không còn nữa, câu thơ mất hết khí thế và ý vị. Đọc khổ thơ này, người ta có thể thắc mắc, chúc nhau sống lâu trăm tuổi thì có gì là xấu mà nhà thơ châm chọc ? Nhưng “nó” đây cũng chính là kẻ mua tước mua quan, làm giàu bất nhân…. ở dưới ! Hẳn tác giả nghĩ rằng, theo quan niệm xưa, sống lâu là do phúc đức cha mẹ, do ăn ở hiền lành thì mới đáng trọng, còn sống lâu do tham lam, độc ác thì chỉ đáng khinh bỉ.

Khổ thơ thứ hai láy lại điệu thơ khổ một :

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang

Theo lời chúc ấy thì “thị trường” quan tước chắc sẽ rất là tấp nập :

Đứa thì mua tước, đứa mua quan

Tước là danh vị vua ban do có công, quan là do vua bổ nhiệm do có tài. Đem tiền mà mua thì chỉ có thể là tước, quan giả, những kẻ bất tài, độc ác nào cũng có thể có tước, có quan cả. Những kẻ mua tước, mua quan này chỉ có thể là bọn nhà giàu hãnh tiến, sẵn tiền, muốn vung ra để chi phối xã hội, cho nên tác giả gọi là “đứa”.

Nhà thơ lại tưởng tượng tiếp : nếu ai cũng sang trọng với quan, tước mua được đó thì lọng đâu cho đủ, và “mặt hàng” lọng chắc là ăn khách nhất :

Phen này ông quyết đi buôn lọng,

Vừa chửi vừa la cũng đắt hàng.

“Lọng” là vật dụng để che vua và các quan lớn trong các cuộc đón rước linh đình, sang trọng ngày xưa. Thiếu lọng thì mất đi vẻ sang trọng, vì vậy các quan rất cần. Câu cuối trong các bản in trước đây đều ghi là : “Vừa chửi vừa la cũng đắt hàng” (xem : Chương Dân thi thoại, Huế, Nhà in Đắc Lập, 1936 ; Thơ văn Trần Tế Xương, NXB Văn học, Hà Nội, 1970 ; Thơ văn Trần Tế Xương, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984). Theo ông Trần Tất Đạt, con trai thứ ba của nhà thơ thì “vừa bán vừa la”, là đúng vì “la” có nghĩa là mắng, cũng tức là “chửi nhẹ”. Vừa bán vừa mắng mà người ta vẫn xúm vào mua thì đủ thấy cái sự háo danh đã hạ thấp nhân cách con người ta xuống đến thế nào !

Khổ thứ ba chuyển sang lời chúc giàu :

Nó lại mừng nhau cái sự giàu,

Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu ?

Tác giả vẫn tiếp tục tưởng tượng : nếu ai cũng giàu “trăm nghìn vạn mớ” cả thì đồng tiền hẳn rơi vãi khắp nơi, không còn giá trị quý báu gì nữa. Đó là một ảo tưởng nực cười !

Phen này ắt hẳn gà ăn bạc,

Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu.

Khổ cuối cùng dành chúc “sự lắm con” :

Nó lại mừng nhau sự lắm con,

Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.

Trước hết, nên chú ý tới hai chữ “nó lại”. Ở hai khổ đầu nhà thơ viết “Lẳng lặng mà nghe” đã thấy chán tai. Hai khổ sau lại viết : “Nó lại”. “Nó lại” chứng tỏ rằng sự chán ngấy mỗi lúc một gia tăng. Thứ hai, “sinh năm đẻ bảy” là nhịp độ sinh sôi nảy nở thường thấy ở động vật như lợn, như chuột, ở đây lại dùng nói cho người. Con người thì làm sao mà”sinh năm đẻ bảy” được ? Nếu vậy, thì phen này cu nhớn, cu bé, cái gái, cái đĩ, cái hĩm, cái tý… sẽ bò lổm ngổm khắp chõng, khắp sân, rồi lớn lên chật đất, chắc chắn phố phường không còn chỗ cho người ta sống nữa và phải bồng bế nhau lên non mà ở. Nhưng tại sao lại lên non, mà không về quê hay ra biển ? Ở đây, lại có thêm ý của tác giả : lên non mà ở với khỉ, vượn hay đười ươi ! Khổ thơ này ngày nay bỗng nhiên có một ý nghĩa hiện đại : cái sự sinh đẻ tràn lan, vô kế hoạch ắt phải đẩy lùi mức sống của xã hội xuống hàng loài vượn !

Bài này có bản còn thêm bốn câu :

Bắt chước ai ta chúc mấy lời,

Chúc cho khắp hết cả trên đời :

Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước,

Sao được cho ra cái giống người.

Tuy có thể không phải là của Tú Xương, song tinh thần vẫn có chỗ nhất quán : dùng hình thức phiếm chỉ để mỉa mai, đả kích những kẻ ích kỷ, tư lợi, tham lam, tầm thường. Nhưng đoạn thơ có một nhược điểm lớn là vơ đũa cả nắm : “Chúc cho khắp hết cả trên đời : Vua, quan, sĩ, thứ người muôn nước”, thì không còn chừa ai hết, và tiếng thơ thành tiếng chửi đổng vô lối !

Có người vẫn thường thích những lời chúc tụng, phỉnh nịnh tầm thường, nhiều hơn là những ước mơ thực tế, đích thực. Tuy nhiên, tiếng cười mỉa mai, cay độc của Tú Xương chủ yếu hướng tới những người bất chính như mua tước, mua quan, tham lam vô độ, hoặc chí ít là những kẻ rởm đời, tầm thường. Mặt khác, tiếng cười của Tú Xương còn vang lên ở một cấp độ cao hơn : những lời chúc tụng kia, nếu đứng riêng ra từng trường hợp thì không có gì đáng nói, nhưng nếu xét trên bình diện toàn xã hội thì sẽ là một hiện tượng phi tự nhiên, nguy hại, vô nghĩa, dị dạng. Ở bình diện này, tiếng cười của Tú Xương quả có một ý nghĩa sâu sắc đáng chú ý.

Tiếng cười của nhà thơ ở bài này cay độc, có thể không làm hài lòng người này, người nọ. Song sự cay độc đôi khi cũng làm người ta thêm chột dạ, tỉnh ngộ, nhất là khi nó liên can tới các thói quen tầm thường của chính mình.

Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/phen-nay-ong-quyet-di-buon-coi-a50720.html