Ca dao kháng chiến thể hiện tinh thần yêu nước và đấu tranh kiên cường

Ca dao kháng chiến là một phần không thể tách rời của văn học dân gian, không chỉ có giá trị văn học mà còn giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử đấu tranh của nước nhà. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ca dao vừa ghi lại những sự kiện, cảm xúc… vừa thể hiện tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường, góp phần tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước…

Trong bài viết này, VOH sẽ giới thiệu đến bạn một số câu/bài ca dao về kháng chiến tiêu biểu.

Ca dao kháng chiến thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh chống ngoại xâm

Những câu ca dao về kháng chiến không chỉ ghi lại lịch sử đấu tranh bất khuất của dân tộc mà còn thể hiện quyết tâm chống giặc ngoại xâm, chiến đấu vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp thống nhất non sông. Qua đó, giúp chúng ta cảm nhận một cách sâu sắc tinh thần yêu nước đồng thời khơi dậy lòng biết ơn và tự hào dân tộc.

  1. Trông lên thì thấy đầy sao Nhìn quanh thì thấy đồng bào mến thân Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong Thóc thuế mà có dân đong Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi Đêm nằm nghĩ lại mà coi Liệu còn thằng giặc đứng ngồi sao yên Nhân dân là bậc mẹ hiền Cơm áo gạo tiền thì mẹ phải lo Dân no thì lính cũng no Dân reo lập nghiệp, lính hò lập công. (Dân no thì lính cũng no - Thanh Tịnh)
  2. Con ơi, giữ trọn lời thề, Tự do, độc lập, không nề hy sinh!
  3. Già thì già tóc, già râu, Tinh thần cách mạng thì đâu có già.
  4. Mẹ già cuốc đất trồng khoai, Nuôi con giết giặc gian lao đêm ngày.
  5. Đeo vàng nặng cổ, nặng tai, Đem ra giúp nước ngày mai huy hoàng.
  6. Lòng ao càng vét càng sâu, Lòng dân oán hận càng lâu càng đầy.
  7. Tây qua rồi lại Tây về Giặc nổi bốn bề ta lại đánh tan.
  8. Đồ đồng chỉ để nấu ăn, Lạc quyên đúc đạn mà ngăn quân thù.
  9. Tiền tuyến diệt xâm lăng Hậu phương trừ giặc dốt.
  10. Ăn cơm với trôốc (đầu) cá chình, Ai một lòng với nước ra Quảng Bình đánh Tây.
  11. Noi gương Cách mệnh Tháng Mười Phá tan xiềng xích xây đời tự do.
  12. Chớ tham đồng bạc con cò, Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa.
  13. Quan Nghè ở tận trong hang, Thằng Tây mò đến quan phang bể đầu.
  14. Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, Thì dân ta mới hết người đánh Tây.
  15. Thằng Tây mà nhảy xuống đây Lòi xương, thủng bụng, phanh thây đầy đồng.
  16. Mỗi ngày hai bốn đồng xu Đi sương về mù khổ lắm ai ơi!
  17. Cao su đi dễ khó về, Khi đi trai tráng, khi về bủng beo.
  18. Tháng lương được có ba hào, Thúng than trên đầu nặng lắm con ơn!
  19. Nuôi quân ta nộp lúa vàng Quân no đánh thắng, giết ngàn giặc Tây.
  20. Đất này là đất cụ Đề, Tây lên thì có, Tây về thì không.
ca-dao-khang-chien-hay-voh
  1. Làm trai đứng giữa Tháp Mười Nêu gương anh dũng cho người đời sau.
  2. Cỏ vùng Bãi Sậy còn xanh Đá vùng Yên Thế chênh vênh chẳng mòn.
  3. Đá mòn nhưng dạ không mòn Quê em còn khổ em còn đánh Tây.
  4. Là dòng dõi của Tiên Rồng Nhân dân Đồng Tháp ta không biết quỳ.
  5. Phá cho bứt lộ thành mương Phá cho cầu sập hết đường Tây đi.
  6. Còn Tây còn vạ còn tai Giết sạch lũ mày làng nước mới yên.
  7. Giặc Tây đánh tới Cần Giờ Anh hùng Lục tỉnh trương cờ thâu công.
  8. Hy sinh trả nghĩa giang san Đoàn quân Nam tiến vượt ngàn gian lao
  9. Tình ruột thịt, nghĩa đồng bào Bát cơm chung, giọt máu đào giúp nhau.
  10. Thằng Tây chớ cậy xác dài Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày Thằng Tây chớ cậy béo quay Mày thức hai buổi là mày bở hơi! Chúng tao thức bốn đêm rồi Ăn cháo ba bữa, chạy mười chín cây Bây giờ mới gặp mày đây Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao!
  11. Dù anh văn hoá lớp mười Anh chưa ra trận, em thời không yêu Dù anh sắc sảo, mỹ miều Nếu không ra trận, không yêu làm chồng.
  12. Việt Nam kháng chiến trường kỳ, Đêm đánh, ngày đánh, Tây gì cũng thua. Chặn dưới nước, vây trên bờ, Theo lệnh Cụ Hồ, đánh thắng mới thôi!
  13. Thương người Vệ quốc đoàn mưa to, gió lạnh, Nhớ người vận tải đòn gánh nghiêng vai. Nợ nước, thù nhà ai cũng như ai, Đuổi quân thù tàn bạo ra ngoài biên cương.
  14. Giặc Pháp đánh chiếm Nha Trang Đường trên, ngõ dưới, xóm làng xác xơ Hỡi anh em, phất cao cờ Cùng nhau gìn giữ cõi bờ, non sông.
  15. Từ Hòn Dữ tới Hòn Hèo Lội suối trèo đèo cực khổ biết bao Nhưng dù vất vả gian lao Đánh thắng giặc Pháp khổ nào cũng qua.
  16. Cùng nhau cấy lúa, trồng mì Góp cho kháng chiến sá gì gian nan Thi đua khắp xóm, khắp làng Vì nền độc lập gian nan sá gì.
  17. Lúa tốt xanh đồng nhờ công của chị, Quân Pháp tràn về có vũ khí của anh. Lúa lên, lúa tốt, công thành, Mồ hôi của chị, sánh với công anh cũng vừa.
  18. Gánh nước chè xanh mẹ đưa ra trận địa, Chặt thêm cây mía mẹ dành để lại phần con. Đêm qua con đánh diệt đồn, Nghe tin thắng trận dập dồn mẹ vui.
  19. Bọn Mỹ Diệm chia Nam, lìa Bắc, Tình đôi ta gắn chặt yêu thương. Bắc Nam chỉ một con đường, Trăm năm hai bến Hiền Lương một đò.
  20. Cầu Hiền Lương thông thương Nam Bắc, Bờ Hiền Lương gắn chặt hai miền. Dù cho Mỹ Diệm đảo điên, Quyết tâm giữ trọn lời nguyền sắt son.
  21. Dù cho giặc lắm mưu mô, Cũng không chia nổi cơ đồ Việt Nam. Dù ai xẻ núi, ngăn sông, Cũng không chia nổi lòng dân Cụ Hồ.
  22. Tàu bay mày liệng trên trời, Hễ sà xuống đất, ta thời bắn ngay. Súng “ba bốn bốn” trong tay, Không cho mày đến đất này thả bom.
  23. Cụ dặn chúng ta phải tăng gia sản xuất, Vì kháng chiến trường kỳ còn lắm cam go. Đinh ninh lời Cụ dặn dò, Quyết trồng nhiều lúa gạo để bộ đội ăn no, diệt thù.
  24. Trăng trên trời có khi tròn, khi khuyết, Nước thủy triều có lúc ngập, lúc khô. Ai ra miền Bắc thưa với Bác Hồ, Miền Nam quyết tâm chống Mỹ để giữ vững cơ đồ ngàn năm.
ca-dao-khang-chien-voh
  1. Xưa Trịnh Nguyễn phân tranh đã từng lấy sông Gianh chia đôi đất Việt, Nhưng dòng sông Gianh không bao giờ đoạn tuyệt được Bắc Nam. Ngày nay dẫu cho Mỹ ngụy điên cuồng khát máu gian tham. Sông Hiền Lương chỉ tạm thời giới tuyến, đâu lại chịu cam đôi đường.
  2. Đồn Vĩnh Tuy xa xa, ngọn đèn pha chiếu đi, chiếu lại, Lúa đồng Long Đại sực nức mùi thơm. Chị em mình ơi gặt nhanh, dấu kỹ ta chẳng quản đêm hôm, Thằng Tây đến, chỉ còn rạ với rơm ngoài đồng.
  3. Ai về làng biển Cảnh Dương, Mà xem du kích rào làng đánh Tây. San hô lớp lớp chất đầy, Trùng trùng lũy thép bủa vây trong ngoài. Bao phen giặc Pháp tơi bời, Gần trăm mũi lõ đi đời nhà ma. Dân quân trai, gái, trẻ, già, Chiến công sáng lọi (chói) quê nhà Cảnh Dương.
  4. Nhìn đàn cò trắng bay qua Thấy đồng lúa ở quê nhà héo hon Xung quanh đồng lúa những đồn Lúa héo bao ngọn căm hờn bấy nhiêu Đêm nay sóng lúa rào rào Hạ đồn, lúa dậy vẫy chào đoàn quân.
  5. Con ơi, con ngủ cho mùi Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông. Chông này gìn giữ non sông, Chông này góp sức diệt quân bạo tàn. Chông này xóa sạch tóc tang, Chông này đem lại tiếng đàn lời ca Cho con gần mẹ gần cha, Cho nước độc lập, cho nhà yên vui. Con ơi con ngủ cho mùi, Để mẹ ngồi vót cho rồi bó chông.
  6. Thằng Tây đừng có ti toe Đừng cậy súng lớn đừng khoe súng dài Chúng tao giáo mác sơ sài Nhưng lòng tao lớn, nhưng tài tao cao Tỉnh Thanh thác đổ, sóng trào Mày dăm ba mống làm sao đánh tày.
  7. Anh đi súng ở tay ai Sao không quay lại bắn loài thù chung Anh xem bao kẻ anh hùng Kìa ông đội Cấn đội Cung thuở nào Hô quân ra cứu đồng bào Súng Tây ông lại bắn vào đầu Tây Tiếng tăm lừng lẫy đó đây Sử xanh ghi mãi những ngày vẻ vang.
  8. Dây bầu bám chặt lấy giàn Dân làng giữ chặt lấy làng mới hay Đồng tâm ai sợ chi ai Mình đông, Tây ít sức tài ai hơn.
  9. Con tôm nhỏ có hai càng Kẹp con cá lóc kềnh càng phải thua Đừng chê cuốc thuổng cày bừa Đánh hoài Tây cũng phải đưa tay hàng.
  10. Ban ngày khoác lá ngụy trang Từng đàn bướm trắng, bướm vàng bay theo Ban đêm gùi đạn vượt đèo Trăng vàng sà xuống đập đèo trên lưng Dừng chân mắc võng giữa rừng Suối reo, chim hót chúc mừng ngủ ngon Ơi người trẩy hội nước non Trường Sơn là bạn sắt son đồng hành.
  11. Chị em đã quyết chẳng chùn Hai vai áo ướt chân bùn đường trơn Đường trơn thì mặc đường trơn Em gánh thóc thuế chàng sờn hai vai Trời mưa cho ướt lá khoai Thóc em không ướt vì ngoài lá che Đường xa chân bước tai nghe Tin vui chiến thắng đưa về khắp nơi.
  12. Quê em sóng nước xanh xanh Bán buôn tấp nập ghe mành liên miên Từ ngày giặc Pháp cuồng điên Bao vây đốt phá ghe thuyền nát tan Chồng em đi biển thác oan Con em bụng đói da vàng bọc thân Sớm hôm em chạy tảo tần Bữa khoai bữa sắn em lần nuôi con Đá mòn nhưng dạ không mòn Quê em còn khổ em còn đánh Tây.
  13. Hai con sông nước mênh mông Nhà em sông Hậu nhà anh sông Tiền Cách nhau một dải đất liền Hai con sông nước chảy riêng hai dòng Ta cùng uống nước Cửu Long Nước sông càng ngọt lúa đồng càng xanh Dù em cách trở xa anh Cách trăm quả núi cách nghìn con sông Chúng ta một dạ một lòng Mối thù đế quốc ta đồng chung lo Cùng nhau xây dựng cơ đồ Nước nhà hết giặc bấy giờ mới yên.
  14. Tay cầm cuốc mặt thì cúi gập Lưng gò vào như gấp làm đôi Loanh quanh xoay xở hết hơi Tấm thân như hãm vào nơi ngục tù Mãi đến lúc sương mù bóng ngả Mới là giờ vội vã trèo lên Trông ra non nước hai bên Biết mình còn sống ở trên cõi trần.
  15. Tìm vào đến mỏ Hòn Gai Xin làm phu mỏ ở ngay dưới hầm Cuộc đời vất vả âm thầm Mông Dương, Cẩm Phả, Hà Lầm đều qua.
  16. Tàu vào dân chúng mừng thầm Than ăn vạn tấn, mà tiền vẫn không Nay Phòng, mai lại đi Kông Trở về chỉ thấy cặp không với người.
  17. Ba toong đi lại nghênh ngang Chậm chân thì gậy nó phang vỡ đầu Công việc khoán nặng, khoán cao Làm mà không được xơi bao mũi giày Mồm quát tháo chân tay đá tát Đánh đập rồi cúp phạt hết lương.
  18. Ruộng ta ta cấy, ta cày, Không nhường một tấc cho bầy Nhật, Tây. Chúng mày lảng vảng tới đây, Rủ nhau gậy cuốc, đuổi ngay khỏi làng.
  19. Làm trai cho đáng nên trai, Thanh gươm, yên ngựa, dặm dài lướt xông. Vẫy vùng Nam, Bắc, Tây, Đông, Lấy thân che chở non sông nước nhà.
  20. Anh đi em cũng xin đi, Anh đi vệ quốc, em thì cứu thương. Đôi ta ra giữa chiến trường, Chung phần chiến đấu, giữ gìn tự do.
  21. Ô Loan nước lặng như tờ Thương người nghĩa sĩ dựng cờ Cần Vương Trải bao gối đất màn sương Một lòng vì nước, nêu gương anh hùng.
  22. Đánh Mỹ chẳng tiếc máu đào, Sản xuất lúa màu, ai nỡ tiếc công… Tánh mạng tài sản công lao, Tất cả góp vào để tổng phản công.
  23. Từ Đồng Xuân đến Tuy Hòa, Truyền đơn chống Diệm tung ra đầy đường. Quyết đòi hội nghị hiệp thương, Cùng nhau đứng dậy ngoan cường đấu tranh. Xé phiếu đỏ, vứt phiếu xanh, Trưng cầu dân ý tan tành như tương.

Những câu ca dao kháng chiến ca ngợi chiến công của quân và dân ta

Nơi có mưa bom, bão đạn cũng chính là nơi ghi dấu ấn biết bao chiến công oanh liệt của bộ đội ta. Vừa thể hiện sự cảm kích trước những chiến thắng lịch sử vừa cổ vũ tinh thần đấu tranh của quân và dân, các bài ca dao kháng chiến với nội dung ca ngợi đã ra đời như vậy.

  1. Ai về Thừa Sủng mà coi, Tây đen Tây trắng xác phơi đồng Mờm.
  2. Hoan hô chiến thắng Xuân Bồ, Năm trăm giặc Pháp không mồ chôn thây.
  3. Súng nổ bốn bề, ầm vang náo động, Dòng sông Gianh nổi sóng dập dồn. Tiếng loa rộn rã xóm thôn, Báo tin chiến thắng Ba Đồn vẻ vang.
  4. Can trường Tri Lễ là đây Ông Cao Thắng chế súng đánh cho Tây nhừ đòn.
  5. Khen cho Cao Thắng tài to Đúc được súng ống in đồ như Tây Tiếng đồn đây đó Cao thầy Khen cho mưu mẹo có tài khôn ngoan.
  6. Ai về Trường Lạc mà coi, Sông Ba - Trường Lạc, máu thôi chan hòa, Em đi hái một nhành hoa, Tặng người chiến sĩ xông pha diệt thù.
  7. Phước Thuận bị đánh tan tành Rồi đồn Hòn Khói cũng thành đống tro Giặc Pháp đứa lếch, đứa bò Quân ta ca hát, reo hò, mừng công.
  8. Hoan hô bộ đội Ninh Hòa Một ngày mà đã đánh ba trận liền Làm cho Mỹ - ngụy đảo điên Đứa chạy, đứa chết nằm nghiêng bên đèo.
  9. Ai vô Cam Ranh mà xem Kho xăng Ô Vũ cháy đêm lẫn ngày Quân giải phóng đánh thật hay Triệu lít xăng Mỹ cháy ngày lẫn đêm.
  10. Đá Bàn núi thấp, núi cao Quân Mỹ càn vào chẳng có lối ra Bao phen bão táp phong ba Núi xanh như một mái nhà yêu thương.
  11. Mỹ cõng, Mỹ lết, Mỹ bò Cả nhóm rình mò bên cạnh bờ mương Nào ngờ mìn nổ tan xương Mấy thằng sống sót tìm đường rút lui.
  12. Tàu Mỹ đến Vĩnh Thái, Vĩnh Mốc phải về chầu hà bá, Phản lực ra Hồ Xá thì phải tan xác khắp nơi. Đông Hà, Cồn Tiên, Dốc Miếu đi đời, Hai miền Nam Bắc rạng ngời chiến công.
  13. Sông Hiền Lương đôi bờ xanh thẳm, Bao năm ròng chịu cảnh đau thương. Quảng Trị quê ta anh dũng, kiên cường, Nơi đụng đầu lịch sử, bao tháng năm trường vẻ vang.
ca-dao-khang-chien-tuyen-tap-voh

Ca dao kháng chiến tố cáo tội ác thực dân, đế quốc

Bên cạnh những sáng tác về công cuộc chiến đấu và sản xuất của dân ta, một bộ phận của ca dao kháng chiến còn tố cáo tội ác của thực dân, đế quốc. Thông qua đó, chúng ta có thể thấy được những gian khổ, hy sinh cũng như tinh thần kiên cường, bất khuất của các thế hệ cha anh, của hậu phương trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

  1. Từ ngày có mặt thằng Tây, Phu phen, tạp dịch ngày ngày khốn thân.
  2. Càng ngày xâu nặng thuế cao, Mất mùa nên phải lao đao, nhọc nhằn.
  3. Biển Đông có lúc vơi đầy, Mối thù đế quốc biết ngày nào quên.
  4. Thằng Tây phá máng, phá lù, Nước mương rút xuống căm thù trào lên.
  5. Hải Vân cao ngất tầng mây Giặc đi đến đó bỏ thây không về.
  6. Từ ngày “bảo hộ” đáo lai Thuế thân đồng mốt, sưu sai bốn ngày
  7. Đá Bia khói hận mịt mù, Dòng sông Bàn Thạch lững lờ máu pha.
  8. Ăn một đọi cơm, đơm một đọi máu Máu chi tanh tưởi máu ơi Mồ cha quân cướp nước sướng đời không bay.
  9. Mồ cha cái lũ thằng Tây Xâm lăng cướp nước khổ cay dân tình Mồ cha cái lũ bù nhìn Phản dân đem bán nước mình cho Tây.
  10. Đồng Cam khổ tựa như tù, Hai lon gạo mốc, mười xu một ngày… Ốm đau không có thuốc men, Chết không hòm chiếu, nó đem chôn trần.
  11. Từ ngày Tây lại đến giờ, Sưu cao, thuế nặng đủ bề đắng cay, Bao người chém giết tù đày, Làm cho trời đất, cỏ cây căm hờn.
  12. Ai qua đèo Cả nhớ chăng, Núi cao, biển rộng mây giăng mịt mù. Dân nghèo đục đá làm phu, Tấm thân đổi lấy ba xu mỗi ngày. Đá lăn, hầm sập tan thây, Cuộc đời nô lệ tháng ngày tối tăm.
  13. Tài nguyên than mỏ nước Nam Thằng Tây làm chủ, mình làm cu li Chỉ vì đói rách phải đi Đi làm phu mỏ, bỏ quê, bỏ nhà Một nghìn chín trăm ba ba Là năm Quý Dậu con gà ác thay Kể dời phu mỏ Hòn Gai Công ty than của chủ Tây sang làm Chiêu phu mộ Khách, An Nam Cuốc tầng khai mỏ tìm than ra vầy Than ra ở các mỏ này Hà Lầm, Hà Sú, mỏ rày Ngã Hai Bán than cho các nước ngoài Tàu bè ngoại quốc vãng lai mua dùng Chủ nhì, chủ nhất, đốc công Mỗi sở một sếp cai trong sở làm Làm ra máy trục, máy sàng Sở Tàu, Than Luyện, Sở Than chung là Va-gông, than chở về ga La-ga đặt ở Cốt Na cổng đồn Để cho xe hỏa dắt dồn Thật là tiện lợi gọn gàng vân vi Ăng Lê, Nhật Bản, Hoa Kỳ Hồng Kông, Thượng Hải đều thì sang mua Cửa Ông là Cẩm Phả po Cẩm Phả min, Cọc Sáu, cùng là Mông Dương Ngoại giao các nước thông thương Hòn Gai giàu vốn lại cường thịnh ra Tây Bay coi sổ la voa Bắc ngay đường sắt cho xe thông hành Một đường đi thẳng Hà Lầm Một đường Núi Béo, Cọc Năm đi về Mát-sông coi sở thợ nề Có nhà máy điện lại thì nhà kho Là nơi phát gạo, phát đồ Có cả nhà giấy đuy-giua hàng ngày Làm công tính sổ tháng Tây Giao cho công-táp để rày phát lương Cứ theo lệ đặt thường thường Ngày hai mươi mốt phát tiền cho phu Thợ thuyền chè chén lu bù Bác cai, tài xế tha hồ ăn tiêu Ấy là những kẻ lương nhiều Còn người lương ít ra chiều đắng cay Kỳ lương trả nợ trắng tay Còn ai thì khất hẹn vay mồng mười Mỗi kỳ vay một đồng thôi Làm sao mà tính cho xuôi việc nhà Nào là trả nợ người ta Nào là đong gạo, nào là tiền ăn Cho nên nợ lại khất lần Hẹn quanh, hẹn quẩn dối dần cho qua Cốt sao có bữa trong nhà Vợ con rau cháo lại chờ kỳ vay Một nguyên chẳng kịp nóng tay Ba mươi một biệt lại rầy giả đi Đồng bạc cuối tháng trông gì Lại mong cho chóng đến kỳ lĩnh lương Khó khăn khổ sở trăm đường Nhiễu điều chẳng phủ giá gương mà hòng Còn công việc thì trông mong Tầu mà không đến còn trông làm gì Mùa mưa ướt áo cũng đi Mùa đông giá rét quản gì đến thân Mùa hè đến phải xoay trần Trên tầng trời nắng cố vần va-gông Vất vả mà cũng chẳng xong Ngủ muộn bị phạt mấy công còn gì Có đi thì lại phải về Quá còi hai lượt còn gì là công Một tháng nghỉ tám ngày thông Hăm hai buổi nữa còn trông nỗi gì Nghỉ tư nghỉ lượt tùy khi Ngày làm ngày nghỉ, ngày đi lại về Thật là khổ cực trăm bề Nhà nghèo biết nghĩ kế gì cho xuôi Một khi nhẩy, bẩy khi ngơi Sinh nhai phải lúc gặp thời khó khăn Thế mà cũng chẳng yên thân Cuối năm cai lại bổ tiền tết Tây Mỗi người công nộp một ngày Thật là cơ cực khổ thay mọi đường Đói nghèo mà chúng chẳng thương Lại còn bóp nặn cho đương lúc này Biết rằng cai có tết Tây Hay là vào túi việc này biết sao Cơm chim có được là bao Áo tù đủ ấm được sao lúc này Gặp thời kinh tế ngày nay Công việc không có cơm rày chắc đâu Gà con thì sợ diều hâu Chủ to thì có biết đâu sự này Mỗi công nó cúp một ngày Bữa ăn nhịn đói cả hai vợ chồng Cha đời xu nịnh tâng công Mong lấy tiền thưởng lấy bằng được khen Đè đầu ăn hiếp dân đen Một ngày hai bữa cơm đèn bằng ai Sáng đi tối đất mù giời Tối về chẳng biết mặt người là ai? Cu li cái xẻng, cái mai Hãi từ ông sếp, ông cai trên tầng Tây đe, sếp mắng, cai trông Cuộc đời thật khổ là thằng cu li Đẩy goòng cút kít đun xe Suốt ngày phải xúc từng xe cho đầy Nếu mà mệt nhọc nghỉ tay Cú mèo, quạ ác nó rầy chửi luôn Xà-lù-bệt, ắt-tăng-xương, Tạt tai đá đít chẳng thương đâu mà Trai hay gái, trẻ hay già Tây chửi: mắm-xốt xú-là cu-xoong Phu lò phải vào trong hang Tai nạn đời sống anh em phu lò Tối tăm như ngục lâm bô Mỗi cai một cái đèn lò cầm tay Thấy đèn chấp chới liền ngay Là đèn đã báo ra ngay sập hầm Tai nạn kể là mấy trăm Bảo hiểm nhân mạng, nhân quyền ở đâu…?

Ca dao trào phúng, phê phán đả kích thực dân, đế quốc

Cũng nằm trong chùm ca dao kháng chiến nhưng những sáng tác với nội dung trào lộng, đả kích thực dân, đế quốc lại mang sắc thái dí dỏm, hài hước. Chúng không chỉ mang lại tiếng cười mà còn thể hiện tinh thần lạc quan của quân và dân ta giữa những năm tháng đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

  1. Vào tầng cũng lắm thằng Tây Thằng thì mũ trắng, thằng nay mũ vàng.
  2. Thằng Tây ăn ở nhiều lòng Sớm hòa, tối đánh là phường xỏ xiên.
  3. Thằng Tây mặt trắng như vôi Trắng răng mũi lõ đuổi tôi thế này.
  4. Ông Tây con chó làm thinh Ai chê chẳng sợ ai khinh chẳng nhờn.
  5. Đời ôi nhiều nỗi bợn nhơ Mã tà có chú hay quơ hay quào Giận ai gươm chúng phao vào Báo quan nhà nghịch, vây rào xét coi.
  6. Ai sinh ra Hà Sú này Có anh cai Bút ngày ngày vênh vang Quần lơ lại vận áo vàng Chân thì tập tễnh nhưng quàng giầy Tây.
  7. Tây đi, Mỹ lại, Đổi chủ, thay thầy. “Cần lao, nhân vị” chi bây, Cũng phường bán nước, cũng bầy thực dân.
  8. Con quạ nó đậu cành cao Nó kêu quà quạ Mỹ nhào hố chông Hoảng hồn lính ngụy chạy rông Bỏ quan thầy Mỹ chổng mông la trời.
ca-dao-khang-chien-cham-biem-voh

Trên đây là 100+ câu ca dao kháng chiến do VOH tổng hợp và chọn lọc. Hy vọng, thông qua bài viết này mỗi người sẽ hiểu hơn về những năm tháng chống ngoại xâm oanh liệt, hào hùng của dân tộc.

Đừng quen theo dõi chuyên mục Thường thức để cập nhật thêm nhiều bài viết hay.

Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/ca-dao-ve-yeu-nuoc-a56337.html