Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Năm 1786, Nguyễn Thiếp quyết định rũ áo, từ quan, lên núi Thiên Nhẫn lập trại và bắt đầu sống cuộc đời ẩn cư với danh hiệu La Sơn Phu Tử. Mặc dù là một "ẩn sĩ" nhưng uy danh của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vẫn lan tỏa khắp cả nước. Ông nổi tiếng là người đạo hạnh thanh cao, có trình độ uyên bác. Cả nước hâm mộ tôn ông là bậc thầy. Ông cũng là con người cao sĩ, sống ẩn dật. Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp.

Ngoài danh hiệu La Sơn phu tử, người ta còn gọi ông là Lạp Phong cư sĩ, hoặc gọi là ông Lục Niên (vì ông ẩn dật ở thành Lục Niên). Năm 1775, Trần Văn Kỷ, một cận thần của Nguyễn Huệ - Quang Trung ra Thăng Long để chiêu mộ sĩ phu Bắc Hà về với nhà Tây Sơn. Khi Trần hỏi Nguyễn Nghiễm, một bậc nguyên lão khả kính về nhân tài của đất Việt thì được trả lời: "Đạo học sâu xa thì Lạp Phong Cư Sỹ, văn phong phép tắc thì Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, còn thiếu niên đa tài đa nghệ chỉ có Nguyễn Huy Tự". Nhân vật mà "đạo học sâu xa", có danh hiệu Lạp Phong Cư Sỹ chính là Nguyễn Thiếp, người đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp của nhà Tây Sơn . Trần Văn Kỷ đã tiến cử La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp với Nguyễn Huệ. Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Thăng Long thực hiện kế hoạch "Phù Lê, diệt Trịnh". Ông được vua Lê phong làm Đại nguyên soái Phù chinh dực vũ Uy quốc công. Với mục đích thu phục nhân tâm, nhất là tầng lớp sĩ phu Bắc Hà, Nguyễn Huệ đã sử dụng Trần Văn Kỷ trong vai trò "tham mưu", làm cầu nối.

Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp. Sử sách ghi rõ những lần mà vua Quang Trung cho mời ông phò tá: Năm 1786, nghĩa quân Tây Sơn, hạ thành Phú Xuân, lật đổ chúa Nguyễn, sau đó kéo quân ra Thăng Long tiêu diệt chúa Trịnh, khôi phục nhà Lê. Năm 1789, đại quân Tây Sơn đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, giành lại non sông gấm vóc. Trong sự nghiệp chính trị của mình Nguyễn Huệ - Quang Trung rất trọng dụng những nhân tài Nho sĩ. Một số Nho Sĩ thức thời như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Trần Văn Kỷ... đã đứng về phía cộng tác tích cực với Tây Sơn. Trong khi đó phần đông các Nho sĩ Bắc Hà vẫn giữ tư tưởng thủ cựu trung với nhà Lê, chống lại Tây Sơn, hoặc lánh đi ẩn dật như Nguyễn Thiếp.

Vốn được nghe danh Nguyễn Thiếp từ trước, Nguyễn Huệ đã ba lần viết thư mời Phu tử xuống núi cùng hợp tác. Thư mời lần thứ nhất ngày 18, tháng 12, năm Thái Đức thứ 9 (1786).

Nguyễn Thiếp viết thư trả lời ngày mồng 9, tháng Giêng, năm Cảnh Hưng thứ 48 (1787), vin vào ba lý do để từ chối lời mời của Nguyễn Huệ; trong thư có viết: “Trộm nghĩ Tiện sinh này tính chất ngu lậu; tài năng, học thuật không có gì hơn người. Chỉ vì có nhiều bệnh, trộm gửi thân ở chốn lâm tuyền. Bình sinh chỉ giảng tập các sách Tứ thư: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Còn nhâm, độn, thao, lược, binh pháp, võ nghệ đều chưa học. Quý quốc ở xa, mới nghe tiếng đồn về Tiện sỹ, còn lẽ bởi đâu và thế nào, sợ chưa biết hết sự thực…

Đạo thư mời, năm nén vàng, hai tấm lụa, tôi nhất thiết không dám nhận, xin kính cẩn gửi cho ông Phan Khải Đức (học trò của cụ) đưa giả y nguyên”.

Bút tích một bức thư của Vua Quang Trung cho mời La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

cộng tác.

Lần thứ hai, Nguyễn Huệ lại sai người đưa thư đề ngày mồng 10, tháng 8, năm Thái Đức thứ 10 (1787) và lễ vật đến mời Phu tử. Lại một lần nữa Phu tử viết thư đáp từ đề ngày mồng 5, tháng 9, Chiêu Thống năm đầu (1787), đời vua Lê Mẫn Đế (1787-1788), khéo léo xin chối từ và trả lại lễ vật. Chính Bình vương Nguyễn Huệ lại viết thư mời Nguyễn Thiếp lần thứ ba, đề ngày 13, tháng 9, năm Thái Đức thứ 10 (1787). Thư lần này dài hơn, lời lẽ chân thành, thống thiết, “cách lập ngôn rất là khéo léo”: “Không ngờ nay, trông lên thành Lục Niên có người tài đương ở đó. Ấy là trời để dành Phu tử cho Quả đức vậy. Tuy Phu tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu tử nỡ ngơ lảng được sao?” Nguyễn Huệ sai Thượng thư Thuyên quang hầu Hồ Công Thuyên kính cẩn mang thư lại đón.

Tấm thịnh tình của Chính Bình vương là thế, ba lần viết thư mời đón mà cả ba lần Nguyễn Thiếp đều từ chối. Năm 1788, trên đường Nguyễn Huệ ra Bắc có viết thư sai Cẩn tín hầu Nguyễn Quang Đại lại mời Nguyễn Thiếp ra đại doanh đóng ở núi Nghĩa Liệt, gần bến Phù Thạch, để được gặp mặt. Sau ba lần thoái thác, lần này Nguyễn Thiếp thực khó từ chối. Bởi lẽ, thư có viết: “Nay thiên hạ khốn khổ. Không cùng Phu tử cứu gỡ thì không biết cùng ai”. Thư đã chạm đến tâm can của Phu tử, vốn nặng lòng với nước với dân.

Sau cuộc gặp gỡ ở bến Phù Thạch, Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp hai người cùng hiểu nhau hơn. Riêng đối với Nguyễn Thiếp vẫn giữ thái độ dè dặt khi nhận lời cộng tác với Tây Sơn. Bởi ông chưa tin Nguyễn Huệ là một người anh hùng hay chỉ là một kẻ gian hùng thời loạn. Nhưng đối với Nguyễn Huệ vẫn rộng lượng tin tưởng, nhờ Phu tử chọn đất xây dựng thành Phượng Hoàng trung đô ở núi Dũng Quyết (phía Nam thành phố Vinh ngày nay). Khi biết tin quân Thanh đã tràn vào chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, rồi nhanh chóng đem đại quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh. Trên đường qua trấn (doanh) Nghệ An, Quang Trung có hỏi Nguyễn Thiếp về kế sách phá quân Thanh. Cuộc gặp gỡ lần này được chép trong sách Lê quý kỷ sự cho biết:

“Ngày 29 tháng 11, năm Mậu Thân (1788), Huệ đến Nghệ An, nghỉ binh. Triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương lược. Thiếp nói:

- Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút, thì khó lòng mà được nó.

Huệ mừng lắm trả lời: - Ông nói chính hợp ý tôi....

Sau hơn mười ngày lâm trận, đại quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh, “kinh đô Thăng Long vẫn thuộc núi sông ta”. “Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ”; lời tiên đoán của Tiên sinh quả không sai.

Từ sau chiến thắng quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Thiếp không còn kỳ vọng vào nhà Lê, bởi vận nhà Lê đã hết. Lê Chiêu Thống hèn mọn đã phải chịu nhục mà chạy theo quân Thanh sang Trung Quốc. Phu tử thực lòng tin tưởng vào vua Quang Trung, một người đã trở thành anh hùng cứu nước. Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân cộng tác với Tây Sơn, cụ mong muốn đem chút “tài mọn” của mình để giúp vào việc quốc kế dân sinh. Trước hết Phu tử bày tỏ chính kiến và khuyên vua ba điều, trong đó điều thứ ba là luận học pháp. “Học pháp là phép học; học thế nào mới là chính?”; “Ngọc không chuốt không thành đồ; người không học không biết đạo”. Đạo là những lẽ thường theo để làm người. Kẻ đi học là học điều ấy vậy. Nước Việt ta từ khi lập Quốc đến bây giờ, chính học lâu ngày mất. Người ta chỉ tranh nhau đua tập việc học từ chương, cầu công lợi mà quên bẵng có cái giáo tam cương, ngũ thường. Chúa tầm thường, tôi nịnh hót. Quốc phá, gia vong; những tệ kia đều ở đó mà ra.

Cúi xin từ rày, ban hạ chiếu thư cho trường phủ, huyện, khiến thầy trò các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện thì đi học.

Phép dạy, nhất định theo Chu Tử: trước học Tiểu học để bồi lấy gốc; Tuần tự tiến lên, rối đến Tứ thư, Ngũ kinh, chư sử. Học cho rộng rồi ước lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm. Họa may nhân tài mới có thành tựu; Nhà nước nhờ đó mà vững yên. Ấy thật là có quan hệ đến thế đạo nhân tâm đời bấy giờ. Xin chớ bỏ qua.

Sư đạo thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình chính và thiên hạ trị.

Ấy là mấy sự, thành thật xin hiến. Chẳng quản lời nói vu vơ, cúi trông Hoàng thượng chọn lựa cho…

Quang Trung năm thứ 4, ngày mười, tháng 8, (1791)”.

Như vậy Phu tử đã vạch rõ cái lợi của chính học và cái hại của học từ chương của sỹ tử, muốn việc học được phổ thông (ở các địa phương nhiều người được đi học); phép học tuần tự từ thấp đến cao. Nhưng, về cuộc hội kiến này Gia phả chép: “Huệ nghe tâu cho là phải, nhưng cũng không theo”. Quang Trung muốn mời Phu tử ở lại Phú Xuân dạy học, nhưng Phu tử lấy cớ tuổi già (lúc đó đã 69 tuổi), cố xin về. Ít lâu sau, khi lập Sùng chính thư viện tại núi Nam Hoa ở Vĩnh Kinh, trong tờ chiếu Quang Trung năm thứ 4, ngày 20 tháng tám (1791), Quang Trung giao cho Nguyễn Thiếp chức Sùng chính viện Trưởng, ban cho hiệu La Sơn tiên sinh và giao cho chuyên coi việc dạy. Nhất định theo phép học Chu Tử, khiến cho nhân tài có thể thành tựu, phong tục trở lại tốt đẹp...

Đền thờ La Sơn Phu Tử.

Ông nên giảng rõ đạo học, rèn đúc nhân tâm, để cho xứng với ý trẫm khen chuộng kẻ tuổi cao đức lớn. Có thể nói La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp có nhiều đóng góp với vua Quang Trung ở các lĩnh vực sau:

- Thống nhất với Quang Trung thời cơ đánh quân Thanh. Chiến lược "thần tốc" là do ông nêu ra. Ông cũng khẳng định trước là Quang Trung sẽ thắng.

- Nhận chức viện trưởng Viện Sùng chính, chỉ đạo việc dịch các sách chữ Hán, chữ Nôm.

- Đề xuất với Quang Trung việc chính học, nhấn mạnh việc giảng dạy đạo đức.

- Ông còn được vua Quang Trung giao cho việc tìm đất ở Nghệ An để xây dựng Phượng Hoàng trung đô, nhưng việc này đã không xúc tiến được.

Khi Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh mời ông vào Phú Xuân, nhưng không giúp được gì để cứu vãn cơ đồ Tây Sơn. Vua Gia Long cũng tỏ ý trọng đãi ông, nhưng ông đã từ chối không cộng tác.

Nguyễn Thiếp được người đương thời tôn làm Phu tử, uy tín lừng lẫy. Ông không có địa vị khoa bảng cao, chỉ dạy học, rồi lui về ở ẩn. Tiếng tăm của ông do phẩm chất cao thượng và công trình tu dưỡng của ông, Nguyễn Thiếp có chủ trương giáo dục riêng, theo lời ông tuyên bố thì là lối dạy và học theo Chu Hi đời Tống. Không thấy ông bàn gì đến những lí lẽ triết học, tư tưởng siêu hình của Chu Hi cả. Ông chỉ vụ sự thiết thực, để mong đưa nước tới một cái đạo có thể làm cho dân, nước thịnh cường.

"Đạo là những lẽ thường theo để làm người. Kẻ đi học là học điều ấy vậy. Nước Việt ta từ khi lập quốc đến bây giờ, chính học lâu ngày mất. Người ta chỉ tranh nhau đua tập việc học từ chương, cầu công lợi và quên bẵng cái giáo tam cương ngũ thường. Chúa tầm thường tôi nịnh hót. Quốc phá gia vong, những tệ kia đều ở đó mà ra cả" (bản tấu ngày 10 tháng 8 âm lịch - 1791).

Vua Quang Trung mất, viện Sùng chính cũng ngừng hoạt động. Theo Gia phả: “… cụ bèn trả những lộc được ban trước cho con Huệ là Trát (Cảnh Thịnh). Cụ ở lại trên núi, tự lấy làm vui, không bận lòng đến việc trần ai nữa”. Mặc dù sau đấy Phu tử có giao thiệp với Cảnh Thịnh và chúa Nguyễn Ánh, nhưng chí ông đã quyết vẫn ở lại núi cũ.

Vào ngày 25 tháng Chạp năm Quý Hợi (đầu năm 1804), La Sơn tiên sinh không bệnh mà mất, hưởng thọ 81 tuổi. Các con đưa cụ an táng nơi chỗ nhà thường ở trên núi Bùi Phong. Người dân xã Nam Kim đã dựng nhà thờ trên núi Thiên Nhận để thờ La Sơn phu tử. Ở làng quê Phu tử cũng có nhà thờ Ngài, mặc dầu đã được trong họ tu bổ nhưng vẫn sơ sài. Đền thờ La Sơn Phu Tử tại xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia (Quyết định của Bộ VHTTDL số 921/QĐ/BT ngày 20-7-1994)

La Sơn phu tử, bậc trượng phu, tuy đã mất cách ngày nay đã hơn 200 năm, nhưng danh tiếng của Phu tử vẫn mãi mãi được kính trọng. Bởi Phu tử luôn giữ được khí chất thanh cao của một nhà Nho - một người thầy, xuất xử không những hợp với thời mà còn hợp lẽ đời, luôn hướng đến ích Quốc, lợi dân. Phu tử còn là tấm gương hiếu học - học không biết mỏi và dạy không biết chán. Trong những năm tháng sống ẩn dật trên núi Bùi Phong, Phu tử đã dạy được nhiều lớp học trò thành đạt, đem lại sự giáo hóa và muốn thay đổi học phong cho cả một thời Tây Sơn.

Minh Vượng (tổng hợp)

Nguồn:

Theo sách La Sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn.

Theo Thầy giáo Việt Nam Mười thế kỷ (Địa chí Bình Định).

Tài liệu của Vũ Duy Mền(ngheandost.gov.vn).

Hồn Sử Việt- NXB Lao động.

Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/khang-khai-la-gi-a57047.html