Cánh hồng bay bổng – Tản văn dự thi của Trần Thu Hằng

Vanvn- Thế giới từng giờ, từng phút âm thầm chia biệt. Trong ký ức sẽ không thể nào quên những khoảnh khắc người thân lặng lẽ ra đi, không lời nói hay cái nhìn vĩnh biệt.

Năm tôi mười ba tuổi, mẹ tạm biệt chị em tôi để đi làm, rồi trở về trong cỗ áo quan. Hình ảnh cuối cùng của mẹ là một nụ cười trước cánh cổng mở ra buổi sớm hôm ấy, ngưng đọng vĩnh viễn. Gần ba mươi năm sau, cha một mình ngã xuống, lặng thinh…

Cầu An Hảo chuẩn bị hợp long. Ảnh: TTH

>> Thể lệ Cuộc thi viết “Về nhà”

Những ngày ngồi yên trong nhà vì dịch, tôi không khỏi so sánh cái cách mà cha mẹ ra đi với những bệnh nhân không về vì Covid. Nỗi nhớ đeo đẳng làm thấm đẫm thêm nỗi sợ trước những bất trắc, vô thường. Có một khoảng trống mênh mông để lại, làm sao có thể bơi qua?

Liệu rằng đó có phải là ánh đèn của bà mẹ bác sĩ Bernard Rieux trong tiểu thuyết Dịch hạch (Albert Camus) thắp lên không? Bà đã thắp ngọn đèn ấy lên trong suốt 9 tháng trời dịch bệnh hoành hành thành phố Oran, khi con trai và những cộng sự vật lộn với công việc cứu người và cái chết. Đó là ánh sáng cuối cùng nhà báo Rambert nhìn thấy trước khi qua đời, vì anh không thể nói bất cứ một lời nào nữa…

Những lần được ra khỏi nhà là những lần “đi chợ” theo giờ giấc và địa điểm ghi trên phiếu. Tôi chọn siêu thị Big C là nơi xa nhất được phép đến, để có thể đi ngang qua ngôi chùa cha mẹ tôi yên nghỉ. Ngôi chùa nhỏ nằm bên bờ sông Đồng Nai, bên kia là quốc lộ 1. Thuở nhỏ tôi thường hay vào chùa chơi rồi qua sông đi học, vị sư trẻ trong chùa có rất nhiều sách vở và luôn khuyến khích bọn trẻ chúng tôi đọc sách. Thuở ấy cổng chùa chẳng bao giờ đóng, bất kể đêm ngày. Nhưng rồi khi đường sá mở ra, dân cư đông đúc, chùa đã phải đóng cửa ban đêm để ngừa trộm cướp.

Vào đêm cha tôi mất, tôi vào chùa để tìm người làm lễ cho cha. Tôi đã phải đứng trước cánh cổng chùa đóng chặt rất lâu, rồi sư thầy xuất hiện trên một chiếc xe máy cà tàng, ướt đẫm sương đêm mở cổng. Thầy nói rằng thầy đi học ở Sài Gòn, mà vì không yên tâm thầy đã quyết về ngay trong đêm.

Khi cổng chùa đã mở

Mỗi lần “đi chợ”, tôi đi ra đường quốc lộ, trở về chùa rồi men theo bến sông cũ về nhà. Đó cũng là con đường cuối cùng của cha, ngày chúng tôi đưa cha ra sông, bến phà vẫn còn hoạt động, cây cầu An Hảo chưa xây dựng xong. Cha nằm lại giữa dòng nước vô định nơi tôi nghĩ là trong lành nhất, tinh sạch nhất, nơi chỉ có lục bình tím ngát thoảng trôi và in hết cả mây trời xuống đó. Sự im lặng “vô ngôn” đeo đẳng trong lòng tôi biết bao năm dài, vì cha đã không nghe và đáp lại lời tôi.

Những lần hiếm hoi tôi đi qua, cánh cổng chùa luôn đóng kín. Đi thật chậm và nghe thật kỹ thì vẫn nghe thấy tiếng chuông đồng ngân nga và làn hương nhẹ như tơ trời phảng phất. Những ngày không dịch bệnh, tôi có thể chọn một góc riêng để tìm về cha mẹ và ngôi nhà thời thơ ấu của mình. Từ quán cà phê ở tầng 18 tòa nhà Sonadezi, Khu công nghiệp Biên Hòa 1, có thể ngắm nhìn quốc lộ 1 và phần thành phố Biên Hòa mở rộng. Mỗi khi lên đến đó, tôi nhìn về ngôi nhà xưa, rồi tìm ánh sáng của ngôi chùa nơi cha mẹ đang nương náu, lòng như được dịu lại. Trong đêm, tôi dễ dàng tìm thấy ngôi chùa nhờ tháp Quan Âm luôn tỏa sáng - đó là nơi am cũ, lúc nhỏ tôi thường đến mượn sách.

Lò thiêu hương

Nhưng rồi tháp Quan Âm không còn nữa, nhường chỗ cho một vườn hoa. Tôi đã không thể tìm thấy ánh sáng quen thuộc, dịu hiền tỏa ra nơi ấy khi bóng đêm ngập tràn thành phố. Đường quốc lộ phía trước giăng mắc vô vàn ánh sáng và sắc màu. Dòng sông phía sau thì dài thăm thẳm. Đó là lý do tôi hay đi lang thang trên những cây cầu bắc qua Cù lao Phố, rồi ngắm nhìn sông, không thôi tự nhắc mình: Đừng để mẹ cha nặng lòng thêm nữa! Nhất là mẹ, người đã vì mình mang nặng đẻ đau, sao còn bắt Người phải vướng bận về con cái cả lúc đã rời xa?

Phải chi cha và mẹ dặn dò đôi lời trước khi mất, phải chi tôi biết được cha mẹ mong muốn tôi làm gì để hai người được vui - thì nếu có phải đánh đổi bất cứ gì, tôi cũng sẵn lòng.

Những ngày ở yên trong nhà, giãn cách để chống dịch, tôi bất chợt tìm lại thói quen hồi bé xíu. Mỗi khi có tiếng máy bay, cha hay gọi chúng tôi ra trước hiên nhà xem máy bay bay qua, nghe chúng tôi tri trô đủ thứ chuyện. Những ngày ấy, đến cả máy bay cũng hiếm thấy, chỉ có bầu trời rỗng không và im lặng. Hóa ra ký ức vẫn còn nguyên đấy, chẳng có dòng sông nào chảy tan ra được, cũng chẳng có mây trời nào trôi đi.

Và nụ cười của mẹ cũng không hề mất đi. Khi làm ảnh thờ, tôi đã phải băn khoăn rất nhiều vì di ảnh mẹ quá trẻ mà ảnh của cha thì quá già. Bởi hai người có sự chia cách đến gần 50 năm - 20 năm cha hơn tuổi mẹ, và gần 30 năm mẹ ra đi trước cha. Cuối cùng thì tấm ảnh cưới đã trở thành ảnh thờ chung của cả hai người, trong đó cha mẹ tươi cười, trẻ trung, mãn nguyện. Tôi tự nghĩ, tôi tự cho rằng đó là sự khởi đầu một cuộc sống mà cha mẹ tin rằng sẽ luôn tươi đẹp, hạnh phúc. Nghĩa là không có những đau khổ, vất vả của kiếp người và sẽ không hề có những điều nuối tiếc.

Có thể nào thôi nghĩ về những lần chia biệt không thể gọi tên, không thể biết trước; và có thể đem nụ cười đi qua những tháng ngày khắc nghiệt này, đến một nơi an trú, được không?

TRẦN THU HẰNG (ĐỒNG NAI)

Link nội dung: https://www.sachhayonline.com/bay-bong-hay-bay-bong-a66996.html