Chương trình giáo dục được định nghĩa qua các giai đoạn
Thuật ngữ chương trình giáo dục (CTGD) xuất hiện từ năm 1820; tuy nhiên phải đến giữa thế kỉ XX, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách chuyên nghiệp ở Hoa Kì và một số nước có nền giáo dục phát triển.
Giai đoạn đầu
CTGD là một khoá học, một giáo trình - cái hình thành nên một khoá học:
- Chương trình học bao gồm các môn học thường xuyên như ngữ pháp, đọc, hùng biện, logic, và toán học (cho các trường tiểu học và trung học) và những môn học tinh tuý nhất của thế giới phương Tây (đưa vào từ trường trung học).
- Chương trình học gồm các môn học chủ yếu trong 5 lĩnh vực lớn như : (1) tiếng mẹ đẻ và ngữ pháp, văn chương và viết; (2) toán học; (3) các môn khoa học;
- (4) lịch sử; (5) ngoại ngữ.
- Chương trình học gồm toàn bộ kiến thức của các môn học. Giáo dục được xem như một quá trình nhằm giúp người học nắm bắt các nội dung kiến thức cấu tạo nên các môn học.
- Chương trình học là một hệ thống các khoá học hay môn học cần phải có để được tốt nghiệp hoặc được cấp chứng nhận đã học xong một ngành học.
- Chương trình học gồm các môn học cố định như ngữ pháp, đọc, logic, hùng biện, toán và các môn học tinh tuý của thế giới phương Tây.
Giai đoạn trước những năm 50 của thế kỉ XX
Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội, nhiều môn học mới được đưa thêm vào CTGD, sự khác biệt giữa những người học đã trở nên rõ rệt hơn đối với GV và các nhà quản lí, định nghĩa về CTGD bắt đầu được mở rộng. Các chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế CTGD bắt đầu phân loại các CTGD khác nhau: CTGD cho khối cơ bản, khối kĩ thuật, khối thực hành v.v.
Thí dụ:
- Trong quan niệm của Bobbitt (1924), CTGD có thể được định nghĩa theo hai hướng, đó là: 1) một loạt các hoạt động nhằm phát hiện khả năng của mỗi người học. 2) một loạt các hoạt động có chủ định nhằm hoàn thiện người học.
- Theo Hollis và Doak Campbell (1935) cho rằng CTGD “bao gồm tất cả những hiểu biết và kinh nghiệm mà người học có được dưới sự hướng dẫn của nhà trường”.
Nhiều tác giả khác cũng cho rằng CTGD không phải là một sản phẩm được dùng cho lâu dài mà có tính phát triển liên tục; chẳng hạn:
- “CTGD là một chuỗi những kinh nghiệm được nhà trường phát triển nhằm giúp người học tăng cường tính kỉ luật, phát triển năng lực tư duy và hành động”
- “CTGD bao gồm tất cả kinh nghiệm mà người học có được dưới sự dẫn dắt của nhà trường.”
- “CTGD gồm tất cả những gì người học có được từ một CTGD nhằm đạt các mục đích và mục tiêu của nó. CTGD được xây dựng theo khung lí thuyết và nghiên cứu hoặc những thực tiễn nghề nghiệp trong quá khứ hay hiện tại.”
Đến giữa những năm 50 của thế kỉ XX
Định nghĩa về CTGD được mở rộng hơn, không chỉ đơn thuần là những nội dung học được trong nhà trường; chẳng hạn:
- “CTGD là tất cả các hoạt động học tập của người học và được kế hoạch hoá bởi trường học nhằm đạt được những mục đích của giáo dục.”
- “CTGD là một kế hoạch nhằm cung cấp những cơ hội học tập để đạt được những mục đích, mục tiêu cụ thể cho một nhóm đối tượng và ở một nhà trường nào đó”.
- Curriculum - một chương trình học (A program of studies). Ở giai đoạn đầu khi được sử dụng trong giáo dục Hoa Kì, từ curriculum có nghĩa là một chương trình các môn học được tiến hành tuần tự cho một khoá học trong một cơ sở giáo dục.
- Curriculum - như một tài liệu (A Document). Một số nhà giáo dục (James McDonald, 1969) xem curriculum như một công cụ để tiến hành giảng dạy và định nghĩa từ này là “những hoạt động giảng dạy được kế hoạch hoá (planned actions for instruction), tức là xem nó là một tài liệu chính thống của nhà trường về hoạt động dạy học.
- Curriculum - những kinh nghiệm được kế hoạch hoá (Planned Experiences). Một số nhà giáo dục xem curriculum là những kinh nghiệm được kế hoạch hoá trong nhà trường. Thompson và Gregg (1997) cho rằng curriculum bao gồm mọi khía cạnh được kế hoạch hoá trong chương trình của nhà trường. Caswell và Campbell, 1935 định nghĩa curriculum là “Toàn bộ kinh nghiệm mà học sinh có được dưới sự hướng dẫn của các giáo viên”.
- Curriculum - là sự kết thúc (as an End). Tất cả những định nghĩa mô tả chương trình như những nội dung cần học hay những kinh nghiệm cần có nêu trên đều có nghĩa là hướng tới một đích cuối cùng nào đó. Ngoài ra còn có định nghĩa “curriculum là tất cả những kết quả đầu ra của quá trình học tập mà nhà trường chịu trách nhiệm”. (Popham & Baker, 1970).
Để có thể có cái nhìn tổng quan về các xu hướng khác nhau trong việc định nghĩa khái niệm curriculum, có thể liệt kê ra đây bảng tổng hợp các định nghĩa về curriculum của Oliva (1977):
- Chương trình giáo dục là những gì được giảng dạy trong nhà trường.
- Chương trình giáo dục là nội dung cần học.
- Chương trình giáo dục là một chương trình học tập.
- Chương trình giáo dục là một hệ thống các tài liệu học tập.
- Chương trình giáo dục là một chuỗi các môn học.
- Chương trình giáo dục là một hệ thống các mục tiêu đào tạo.
- Chương trình giáo dục là một khoá học.
- Chương trình giáo dục là tất cả những gì diễn ra trong nhà trường, bao gồm cả các hoạt động ngoại khoá, những chỉ đạo, hướng dẫn và những mối quan hệ giữa các cá nhân.
- Chương trình giáo dục là những gì được dạy cả trong và ngoài nhà trường, dưới sự chỉ đạo của nhà trường.
- Chương trình giáo dục là tất cả những gì được thiết kế bởi cán bộ trong nhà trường.
- Chương trình giáo dục là một chuỗi những kiến thức mà học sinh thu thập được trong nhà trường.
- Chương trình giáo dục là những kiến thức mà mỗi cá nhân người học có được nhờ nhà trường.
Định nghĩa bao hàm
Chương trình giáo dục là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ hoạt động giáo dục tại nhà trường. Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung giáo dục (với độ rộng và sâu tương ứng với chuẩn đầu ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình).
Cấu trúc của CTGD bao gồm hai thành phần chính: (1) sự hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập, và (2) cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở thành hiện thực.
Phát triển chương trình giáo dục
Phát triển chương trình giáo dục (curriculum development) là một ngành học, có một tập hợp hệ thống các khái niệm, nguyên tắc lí thuyết làm nền tảng, có đối tượng và nội dung nghiên cứu xác định, có các phương pháp nghiên cứu đặc thù. Ngành học này có các chuyên gia trong lĩnh vực phát triển chương trình, được trang bị những kiến thức tổng hợp trong các lĩnh vực như triết học, tâm lí học, xã hội học, sử học, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực môn học… Ngành học này cũng có các nhà thực hành, đó là các GV, các nhà quản lí giáo dục các cấp.
Sau đây là 10 tiên đề mà các nhà phát triển CTGD xem là tất yếu cần và có thể áp dụng cho ngành học Phát triển CTGD:
1) Thay đổi chương trình là cần thiết và không thể tránh được.
2) Chương trình là sản phẩm của thời đại.
3) Các thay đổi trong chương trình xảy ra ở giai đoạn đầu có thể cùng tồn tại và đan xen với những thay đổi ở giai đoạn sau.
4) Thay đổi chương trình xảy ra chỉ khi nào mà con người bị thay đổi.
5) Xây dựng chương trình là một hoạt động nhóm hợp tác.
6) Xây dựng chương trình về cơ bản là một quá trình chọn lựa giữa nhiều khả năng thay thế.
7) Xây dựng chương trình không bao giờ kết thúc.
8) Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn nếu như đó là một quá trình toàn diện, chứ không phải là quá trình từng phần.
9) Xây dựng chương trình sẽ hiệu quả hơn khi nó tuân theo một quá trình có hệ thống.
10) Xây dựng chương trình bắt đầu từ chương trình hiện hành.
Tài liệu tham khảo
Giáo trình Phát triển chương trình nhà trường.
Hoặc