<Dù nó đã từng khuấy đảo với độ khó của đề thi 2018, nhưng tui đã từng mong sẽ gặp lại tác phẩm hay ho này ở đề thi 2021, giống như cách tui gặp ‘Đoàn thuyền đánh cá’ hồi thi vào 10 dù nó cũng đc ra cách đó 3 năm. Nhưng hong, thứ mà trang đề thi 2021 đập vào mặt tui là đuỹ tình yêu với bài ‘Sóng’ >
Bằng bản lĩnh, tài năng và tư duy của người sáng tạo chân chính, Nguyễn Minh Châu được coi là “người tiền trạm”, “kẻ dẫn đường” đã góp phần thay đổi diện mạo của văn học Việt Nam sau 1975. Trong cơn trở dạ nhiều đau đớn ấy, Nguyễn Minh Châu vẫn luôn ấp ủ một khát vọng khẩn thiết và mãnh liệt: văn chương cần phải khác, cái đẹp phải là cái “thật” và con người cần được nhìn nhận ở bề sâu, bề xa. Bởi thế, các sáng tác của ông thời kì này tập trung vào những phát hiện về bản chất tốt đẹp của con người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong quá trình hoàn thiện bản thân và kiếm tìm hạnh phúc. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” , với câu chuyện chua xót của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện, chính là một dấu ấn đầy trăn trở của nhà văn, mang đậm màu sắc triết lý về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, về thế sự và con người cá nhân.
Truyện ra đời năm 1983, ở thời điểm đất nước đang chuyển mình, đời sống kinh tế còn tồn tại nhiều góc khuất tối khiến người ta phải băn khoăn. Nằm trong tập truyện cùng tên XB năm 1987, “Chiếc thuyền ngoài xa” mang xu hướng chung của văn học thời kì đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận con người đời thường. Tác phẩm vẽ ra trước mắt người đọc cảnh thiên nhiên vùng phá nước miền trung và bi kịch của gia đình làng chài, qua đó nói lên thân phận cá nhân con người sau chiến tranh cùng mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.
Suốt một tuần, Phùng không hề nhận ra bi kịch, nạn bạo hành trong các gia đình, anh chỉ thấy những ánh hồng, thấy cuộc sống rạng rỡ của người dân chài lưới. Vì vậy, Phùng phải nhờ đến sự can thiệp của Đẩu - người bạn chánh án huyện lâu năm ở đây, nhưng, kì lạ thay, cũng không hề biết đến chuyện những người đàn ông đánh vợ. Mâu thuẫn, xung đột của gia đình hàng chài mang ý nghĩa xã hội, đòi hỏi một giải pháp quyết liệt hơn, nên Đẩu đã mời người đàn bà đến toà.
Ở tòa án huyện, ban đầu, mụ đàn bà xuất hiện trong dáng vẻ rụt rè, lúng túng, chỉ dám tìm đến một góc tường để ngồi. Vẻ ngại ngần, sợ sệt “mà ngay lúc mị đứng giữa bãi xe tăng cũng không hề thấy có” ấy như giúp người đàn bà tạm ẩn mình sau lớp lông xù của một con thú hiền lành đang cố tự vệ dẫu cho Đẩu không ngừng tỏ ra thân mật. Mụ vẫn giữ cách xưng hô “con” - “quý toà” với Đẩu và chắp tay vái lia lịa khi nghe lời khuyên đầy giận dữ của vị chánh án: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”.Trước cảnh này, Phùng kinh ngạc cao độ và cảm thấy bức bối : “gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí, trở nên ngột ngạt quá” vì “không thể nào hiểu được” thái độ cam chịu lạ lùng ấy. Dường như, cách xưng hô và mọi cử chỉ của người đàn bà đang dẫn ta trở về với bối chế độ xã hội cũ, xa xưa, quê mùa và lạc hậu, ở vị thế của một con người thấp cổ bé họng. Về sau, khi nhìn thấy Phùng bước ra, mặt người đàn bà biến sắc, và chỉ thoáng chốc bỗng trở nên sắc sảo lạ thường, rồi bà mới kể cho Phùng và Đẩu nghe câu chuyện của mình.
Trong dòng hồi tưởng dài dằng dặc của người đàn bà, nhân vật xuất hiện đầu tiên là ông chồng vũ phu, bà kể từ thời điểm quá khứ - bắt nguồn của mối nhân duyên nghiệt ngã này. Trong mắt người vợ, lão chồng không xấu xa độc ác, mà trước kia là “một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh tôi”. Họ nên duyên vợ chồng và cùng nhau làm ăn, trang trải cuộc sống. Lão chồng vũ phu ấy đối với người đàn bà có hai cái “ân” : ân huệ và ân nhân. Mụ tự nhận rằng vì mình bị cái xấu đeo đuổi như định mệnh từ lúc còn nhỏ, trận đậu mùa để lại di chứng trên mặt là những nốt rỗ chằng chịt theo năm tháng. Vì xấu nên việc có mang với anh hàng chài là một ân huệ, còn việc hắn đưa bà lên thuyền để chung sống đã khiến hắn thành ân nhân. Bằng sự thấu hiểu của một người vợ, người đàn bà không những không oán trách, mà còn chẳng ngại ngần lí giải nguyên nhân chồng mình tha hoá là hoàn toàn do ngoại cảnh. Ấy là quãng thời gian nghèo khổ, túng quẫn vì trốn lính, là những ngày biển động dữ dội, là tại cái lỗi do “đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”.Người đàn bà khốn khổ vừa che chắn cho ông chồng tàn nhẫn bằng những nỗi khổ mà cuộc đời đem đến, vừa vơ hết lỗi về mình “giá mà tôi đẻ ít đi“. Bà nhẫn nhục, bao dung, cảm thông cho chồng nhưng chỉ duy nhất không bao dung cho bản thân mình.Ở đây diễn ra một sự va chạm gay gắt giữa những điều đã mặc định về con người với thực tế sống động của hiện thực. Phùng và Đẩu đều tin rằng mình đúng: họ đinh ninh ông chồng là kẻ tàn nhẫn, xấu xa, họ bảo vệ người đàn bà bằng cả thiện chí lẫn luật pháp. Chỉ có điều, người đàn bà lam lũ ấy giống như một bí mật mà họ chưa bao giờ biết. Sự thay đổi hoàn toàn tư thế và lối xưng hô, những câu nói chất phác mà “thấu tình đạt lí” của bà làm cả Phùng lẫn Đẩu bối rối: “những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi…“.
Trong nỗi khổ đau triền miên, người đàn bà nghĩ về mình và biết bao người phụ nữ khác cùng chung hoàn cảnh ở miền sông nước miền Trung.“Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” - giọng văn ở đây của NMC xót xa và thâm thuý. Bởi lẽ, xưa kia, Tào Tháo đãi tiệc Quan Công “ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn” , cho nên, những trận đánh đập cũng giống như những bữa tiệc mà lão đàn ông man rợ dùng để tiếp đãi cho vợ và cho chính mình. Cực điểm của nỗi khổ là khi bà “xin” với chồng “được đánh ở trên bờ” vì không muốn con cái bị tổn thương. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Vừa trải lòng về những nhọc nhằn gian khó, nhưng khi được hỏi về “một lúc nào thật vui”, người đàn bà ấy vẫn hào hứng chắt lọc được niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, đời thường của giây phút vợ chồng con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận, là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó mà bà phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn. Với những kiếp đàn bà khổ cực thì nói đến niềm vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho chồng con chính là niềm vui lớn nhất đối với họ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần đầu tiên trên gương mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”. Một lần nữa, cách nhìn đầy định kiến và đơn giản “va” phải cái trí khôn của đời thường. Người đàn bà thất học lại giảng giải cho hai vị trí thức về những nghịch lí mà con người phải chấp nhận khi nó bị cầm tù trong hoàn cảnh đói nghèo cùng cực. Pháp luật công bằng, lòng tốt vô tư đều chưa đủ sức hoá giải những nghịch lí ấy.Cả Phùng và Đẩu đều vỡ lẽ ra rằng có một cuộc chiến khác đang diễn ra âm thầm, gay gắt và nhức nhối từ lâu. Đó là cuộc chiến bảo vệ con người, đấu tranh cho con người tốt đẹp hơn. Nếu như Đẩu vỡ lẽ theo cái nhìn pháp luật: “Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao công của cái phố huyện vùng biển, lúc này trông Đẩu rất nghiêm nghị và đầy suy nghĩ”; thì dưới con mắt của một người nghệ sĩ đầy suy tư, Phùng giác ngộ rằng anh không thể chỉ nhìn bằng cái nhìn bề ngoài hời hợt và thưởng thức, bằng cái nhìn chủ quan duy ý chí của mình, mà phải thâm nhập vào chiều sâu hiện thực, phản ánh hiện thực đúng như nó vốn cóvà thậm chí phải dấn thân vào cuộc đấu tranh chung để bảo vệ con người.Có thể thấy, người đàn bà lạc, hậu, quê mùa với câu chuyện đời đầy chua xót, biết bản thân lạc hậu, cổ hủ, nhưng cũng như biết bao thân phận con người khác sau chiến tranh, bàkhông sao thoát khỏi sự lạc hậu đó. Dẫu vậy, hiện lên trước mắt người đọc vẫn là một người phụ nữ thấu suốt lẽ đời, biết hi sinh vì con cái, biết quý trọng và sẵn sàng bảo vệ sự toàn vẹn của gia đình, toát lên vẻ đẹp mẫu tính đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam:
“Nhẫn nại nuôi con, suốt đời im lặng
Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời.” (Tố Hữu)
Nghĩ về thằng Phác, người đàn bà không thể kìm nén những giọt nước mắt - như được vắt ra từ đôi mắt cạn khô, hay từ trái tim đang bị bóp nghẹt. Dẫu được mẹ đưa lên sống cùng ông ngoại, được ăn uống đầy đủ, được học hành, song thằng Phác không những giống bố nó về hình dáng bên ngoài, giống bố nó về tính cách, mà có khi còn hơn cả bố nó về sự giận dữ, cả về cách cầm thắt lưng để đánh “dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực vạm vỡ…”. Nó dõng dạc tuyên bố: chừng nào còn có nó ở đây thì không để cho bố đánh mẹ. Phác mang chút gì cái hình ảnh của bố nó thời trẻ, và bố nó phải chăng sẽ là hình ảnh tương lai của thằng Phác? Đứa con trai ấy đã đẩy bi kịch gia đình lên đỉnh điểm và dự báo mâu thuẫn không dừng lại ở một đời mà sẽ còn tiếp diễn đến những thế hệ sau, giống như hình ảnh một Chí Phèo con ra đời nơi lò gạch. Cuộc sống ở đây tự cấp tự túc đến bao giờ mới chấm dứt được, người ta vẫn lệ thuộc vào thiên nhiên giữa vùng đầm phá mênh mông, còn cái nghèo thì đeo đẳng mãi. Vậy nên, NMC đặt ra đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều trước cuộc sống.
Để làm nên thành công cho hình tượng người đàn bà nói riêng và toàn bộ tác phẩm nói chung, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã vận dụng thành công qua ngôn ngữ kể khách quan, giàu sức thuyết phục. Tình huống truyện mang tính nhận thức, vỡ lẽ, vốn rất quen thuộc trong nhiều tác phẩm của ông sau 1975, như “Bức tranh”, “Bến Quê” hay “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”. Từng có nhiều cây bút tài hoa đã vô tình bắt gặp lẫn nhau trên cùng một giao lộ của hành trình khám phá mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. Người đọc có thể nhận ra, Nguyễn Minh Châu, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng đều có nhận thức rất sâu sắc và tinh tế về chủ đề đó. Nam Cao từng thốt lên rằng: “Chao ôi, nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…“, còn Nguyễn Huy Tưởng cũng đã viết trong Vũ Như Tô’: “Nghệ thuật mà không gắn liền với đời sống thì đó nó chỉ là những bông hoa ác mà thôi“. Đồng điệu với những quan điểm ấy, Nguyễn Minh Châu sâu sắc nhận ra: “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan“, đâu có cảnh toàn bích, toàn mỹ, chẳng qua ấy chỉ là bề nổi hào nhoáng để ẩn sâu sau đó là những phũ phàng.
Nguyễn Minh Châu cùng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, đặc biệt là được thể hiện qua câu chuyện của người đàn bà ở toà án huyện, đã dẫn dắt người đọc vào cuộc phiêu lưu kì thú nhưng cũng đẫm nước mắt. Những bài học về cuộc đời và nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm như một kim chỉ nam, một ngọn hải đăng kiêu hãnh và sừng sững, dẫn đường cho những cánh buồm nghệ sĩ trẻ. Chính điều đó sẽ làm nên sức mạnh và giá trị vĩnh cửu cho một cây bút, một tác phẩm đích thực, không hề tô hồng mà bám sâu chùm rễ vào hiện thực đời sống, đúng như nhà văn nước Nga - Sedrin từng khẳng định: “Nghệ thuật nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”.
<3_banhmithiu_
Hoặc