Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam

"Chúc" là lời dặn dò, phó thác. "Chúc thư" hay "Di chúc" là lời dặn dò của người chủ gia đình, người lãnh đạo đất nước trước khi mất. Chúc thư, di chúc viết thành văn bản có giá trị hành chính, pháp lý. Nếu không biết chữ, hoặc yếu quá không viết được nữa thì nhờ người khác viết, đọc lại cho nghe rồi ký tên hoặc điểm chỉ vào dưới. Di chúc của nhà vua thì gọi là di chiếu.

Nội dung chính của chúc thư thường là việc chia gia tài. Nhà có bao nhiêu ruộng đất, nhà cửa, chia cho con trai con gái, ai được hưởng khoảnh nào, mấy mẫu, mấy sào ở đâu, còn lại bao nhiêu dành cho mẹ làm của dưỡng lão, giao người nào chăm nom. Nếu còn bao nhiêu nợ làng, nợ họ cũng giao phó cho con nào phải đòi, phải trả. Quy định giành bao nhiêu làm ruộng hương hỏa, giao cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Di chiếu của nhà vua giao cho ai là đại thần có mệnh phò thái tử lên ngôi. Nếu ngôi thái tử chưa định thì chuyền chỉ cho hoàng tử nào nối ngôi...

Thời nay, nam nữ bình quyền, nếu cha mất trước đã có mẹ nắm toàn bộ quyền hành. Thời trước, người mẹ, người vợ sau 3 năm tang chồng nếu muốn tái giá thì đi tay không, nếu ở lại nuôi con cũng không được nắm toàn quyền, còn phải lệ thuộc các ông chú, ông bác trong họ. Nếu còn có nợ thì phải trả hết.

Thế nên, có những gia đình giàu có nhưng vô phúc, bạc đức: Cha mẹ nằm xuống anh em đùn đẩy nhau, chưa lo việc chôn cất, chỉ chăm chú tranh giành tài sản, để thiên hạ xỉ vả. Vì vậy, khi còn khoẻ, các cụ đã phải lo xa: Chia gia tài trước, định trách nhiệm sẵn, mua sắm bộ hậu sự (áo quan) có người còn dặn trước cả việc chôn cất, tang chế, cỗ bàn, đình đám..

Trích di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:

"...Suốt đời tôi hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân..."

Ngày 10-5-1969

Di chúc của Tam nguyên Yên Đổ:

"Kém hai tuổi xuân đầy chín chục

Số thầy sinh phải lúc dương cùng

Đức thày đã mỏng mòng mong

Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy

Học chẳng có rằng hay chi cả

Cưỡi đầu người kể đã ba phen

Tuổi là tuổi của gia tiên

Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.

ấy thủa trước ông mày chẳng đỗ

Hoá bây giờ cho bố làm nên

Ơn vua chửa chút báo đền

Cúi trông hổ đất, ngửng lên thẹn trời

Sống không để tiếng đời ca thán

Chết được về quê quán hương thôn

Mới hay trăm sự vưông tròn

Sống lâu đã trải chết chôn chờ gì?

Đồ khâm niệm chớ nề xấu tốt

Kín chân tay đầu gót thời thôi

Cỗ đừng to lắm con ơi

Hễ ai chạy lại con mời người ăn

Tế đừng có viết văn mà đọc

Trướng đối đừng gấm vóc làm chi

Minh tinh con cũng bỏ đi

Mời quan đề chủ con thì không nên

Môn sinh chớ bỏ tiền đạt giấy

Bạn của thầy cũng vậy mà thôi

Khách quen chớ viết thiếp mời

Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu

Chẳng qua nợ để cho người sống

Chết đi rồi còn ngóng vào đâu

Lại mang cái tiếng to đầu

Khi nay bày biện, khi sau chê bàn

Cờ biến của vua ban ngày trước

Khi đưa thày con rước đầu tiên

Lại thuê một lũ phường kèn

Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng

Việc tống táng nhung nhăng qua quýt

Cúng cho thầy một chút rượu hoa

Đề vào mấy chữ trong bia,

Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu"