Việt Nam sử lược

CHƯƠNG XIV

MƯỜI NĂM ĐÁNH QUÂN TÀU

( 1418 — 1427 )

1. Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam-sơn
2. Về Chí-linh lần thứ nhất
3. Về Chí-linh lần thứ hai
4. Bình-định-vương về đóng Lư-sơn
5. Bình-định-vương về đóng Lỗi-giang
6. Nguyễn Trãi
7. Bình-định-vương phá quân Trần Trí
8. Về Chí-linh lần thứ ba
9. Bình-định-vương hết lương phải hòa với giặc
10. Bình-định-vương lấy đất Nghệ-an
11. Vây thành Tây-đô
12. Lấy Tân-bình và Thuận-hóa
13. Quân Bình-định-vương tiến ra Đông-đô
14. Trận Tụy-động: Vương Thông thất thế
15. Vây thành Đông-đô
16. Vương Thông ước hòa lần thứ nhất
17. Bình-định-vương đóng quân ở Bồ-đề
18. Bình-định-vương đặt pháp-luật để trị quân dân
19. Trận Chi-lăng: Liễu Thăng tử trận
20. Vương Thông xin hòa lần thứ hai
21. Trần Cao dâng biểu xin phong
22. Tờ bình Ngô đại cáo


1. LÊ LỢI KHỞI NGHĨA Ở LAM-SƠN. Từ khi nhà Minh sang cai-trị An-nam, dân ta phải khổ-nhục trăm đường, tiếng oan không kêu ra được, lòng tức giận ngấm-nghía ở trong tâm-can, chỉ mong-mỏi ra cho khỏi đống than lửa. May lúc ấy có một đấng anh-hùng nổi lên, kéo cờ nghĩa để chống với giặc Minh, trong 10 năm ấy lại được giang-sơn cũ, và xây-đắp lại nền độc-lập cho Nước Nam.

Đấng anh-hùng ấy, người ở làng Lam-sơn, huyện Thụy-nguyên, phủ Thiệu-hóa, tỉnh Thanh-hóa, họ Lê 黎, tên là Lợi 利. Đã mấy đời làm nghề canh-nông, nhà vẫn giàu có, lại hay giúp-đỡ cho kẻ nghèo-khó, cho nên mọi người đều phục, và những tôi-tớ ước có hàng nghìn người. Ông Lê Lợi 黎 利 khảng-khái, có chí lớn, quan nhà Minh nghe tiếng, đã dỗ cho làm quan, nhưng ông không chịu khuất, thường nói rằng: « Làm trai sinh ở trên đời, nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại chịu bo bo làm đầy-tớ người! ». Bèn giấu tiếng ở chỗ sơn-lâm, đón mời những kẻ hào-kiệt, chiêu-tập những kẻ lưu-vong.

Đến mùa xuân năm mậu-tuất (1418) đời vua Thành-tổ nhà Minh, niên-hiệu Vĩnh-lạc thứ 16, ông Lê Lợi cùng với tướng là Lê Thạch 黎 石 và Lê Liễu 黎 柳 khởi binh ở núi Lam-sơn 藍 山 tự xưng là Bình-định-vương 平 定 王, rồi truyền hịch đi gần xa kể tội nhà Minh để rõ cái mục-đính của mình khởi nghĩa đánh kẻ thù của nước.

Việc đánh giặc Minh tuy là thuận lòng người và hợp lẽ công-bằng, nhưng mà thế-lực của Bình-định-vương lúc đầu còn kém lắm, tướng-sĩ thì ít, lương-thực không đủ. Dẫu có dùng kế đánh được đôi ba trận, nhưng vẫn không có đủ sức mà chống-giữ với quân nghịch, cho nên phải về núi Chí-linh[1] ba lần, và phải nguy-cấp mấy phen, thật là gian-truân vất-vả. Sau nhờ hồng-phúc nước Nam, Bình-định-vương lấy được đất Nghệ-an, rồi từ đó mới có thể vẫy-vùng, đánh ra mặt Bắc, lấy lại được giang-sơn nước nhà.

2. VỀ CHÍ-LINH LẦN THỨ NHẤT. Khi quan nhà Minh là Mã-kỳ 馬 騏 ở Tây-đô, nghe tin Bình-định-vương nổi lên ở núi Lam-sơn, liền đem quân đến đánh. Vương sang đóng ở núi Lạc-thủy (Cẩm-thủy, phủ Quảng-hóa) để đợi quân Minh. Đến khi quân Mã Kỳ đến, phục binh của vương đổ ra đánh, đuổi được quân nghịch, nhưng vì thế yếu lắm chống giữ không nổi, vương phải bỏ vợ con để giặc bắt được, đem bại binh chạy về đóng ở núi Chí-linh.

3. VỀ CHÍ-LINH LẦN THỨ HAI. Tháng tư năm kỷ-hợi (1419) Bình-định-vương lại ra đánh lấy đồn Nga-lạc (thuộc huyện Nga-sơn, Thanh-hóa) giết được tướng nhà Minh là Nguyễn Sao 阮 抄, nhưng quân của vương bấy giờ hãy còn ít, đánh lâu không được, lại phải rút về Chí-linh.

Quan nhà Minh biết rằng Chí-linh là chỗ Bình-định-vương lui tới, bèn đem binh đến vây đánh. Vương bị vây nguy-cấp lắm, mới hỏi các tướng rằng: có ai làm được như người Kỷ Tín 紀 信 ngày trước chịu chết thay cho vua Hán Cao không? Bấy giờ có ông Lê Lai 黎 來 liều mình vì nước, xin mặc thay áo ngự bào cưỡi voi ra trận đánh nhau với giặc. Quân nhà Minh tưởng là Bình-định-vương thật, xúm nhau lại vây đánh, bắt được giết đi rồi rút quân về Tây-đô.

4. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG VỀ ĐÓNG LƯ-SƠN. Vương nhờ có ông Lê Lai chịu bỏ mình cứu chúa, mới trốn thoát được nạn lớn, rồi một mặt cho người sang Ai-lao cầu-cứu, một mặt thu-nhặt những tàn quân về đóng ở Lư-sơn 蘆 山 (ở phía tây châu Quan-hóa).

Ngay năm ấy, ở Nghệ-an có quan Tri-phủ là Phan Liêu 潘 僚 làm phản nhà Minh; ở Hạ hồng có Trịnh công Chứng 鄭 公 證, Lê Hành 黎 行; ở Khoái-châu có Nguyễn Đặc 阮 特;  ở Hoàng-giang có Nguyễn đa Cấu 阮 多 構, Trần Nhuế 陳 芮; ở Thủy-đường có Lê Ngã 黎 餓, nổi lên làm loạn, quân nhà Minh phải đi đánh-dẹp các nơi cho nên Bình-định-vương ở vùng Thanh-hóa cũng được nhân dịp mà dưỡng uy súc nhuệ.

5. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG VỀ ĐÓNG LỖI-GIANG. Năm canh-tí (1420) Bình-định-vương đem quân ra đóng ở làng Thôi, định xuống đánh Tây-đô, tướng nhà Minh là Lý Bân được tin ấy, đem quân đến đánh, đi đến chỗ Thi-lang, bị phục binh của vương đánh phá một trận, quân Minh bỏ chạy. Vương lại đem quân lên đóng ở Lỗi-giang 磊 江[2] và ở đồn Ba-lậm. Quân Minh phải lùi về đóng ở Nga-lạc và Quan-du để phòng giữ Tây-đô.

6. NGUYỄN TRÃI. Khi Bình-định-vương về đánh ở Lỗi-giang, thì có ông Nguyễn Trãi 阮 薦[3] vào yết-kiến, dâng bài sách bình Ngô, vua xem lấy làm hay, dùng ông ấy làm tham-mưu.

Ông Nguyễn Trãi là con ông Bảng-nhãn Nguyễn phi Khanh 阮 飛 卿. Đời nhà Hồ, ông đã thi đỗ tiến-sĩ (1400). Khi ông Nguyễn phi Khanh bị nhà Minh bắt về Kim-lăng, ông theo khóc, lên đến cửa Nam-quan không chịu trở lại. Ông Phi Khanh bảo rằng: « Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc-lóc mà làm gì? » Từ đó ông trở lại, ngày đêm lo việc phục thù. Nay ra giúp Bình-định-vương bày mưu định kế để lo sự bình-định.

7. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG PHÁ QUÂN TRẦN TRÍ. Đến tháng 11 năm tân-sửu (1421) tướng nhà Minh là Trần Trí 陳 智 đem mấy vạn quân đến đánh Bình-định-vương ở đồn Ba-lậm, lại ước với người Lào sang cùng đánh hai mặt. Vương mới hội các tướng lại bàn rằng: Quân kia tuy nhiều, nhưng ở xa đến, còn đang nhọc-mệt, ta nên đưa quân ra đón đành tất là phải được. Bàn xong, đến đêm đem quân vào cướp trại Minh, giết được hơn 1.000 người. Trần Trí thấy vậy giận lắm, sáng hôm sau truyền lệnh kéo toàn quân đến đánh. Quân An-nam đã phục sẵn trước rồi, thấy quân Minh đến, liền đổ ra đánh hăng quá, quân Minh lại phải lui về.

Đang khi hai bên còn đối địch, có ba vạn người Lào giả xưng sang làm viện binh cho Bình-định-vương. Vương không biết là dối, quân Lào nửa đêm kéo đến đánh, tướng của Vương là Lê Thạch 黎 石 bị tên bắn chết. Nhưng mà quân ta giữ vững đồn trại, quân Lào phải lùi về.

8. VỀ CHÍ-LINH LẦN THỨ BA. Sang năm sau là năm nhâm-dần (1422) Bình-định-vương tự đồn Ba-lậm tiến lên đánh đồn Quan-gia, bị quân Minh và quân Lào hai mặt đánh lại, phải thua chạy về giữ đồn Khôi-sách. Quân Minh và quân Lào thừa thế đổ đến vây kín bốn mặt. Vương thấy thế nguy quá, mới bảo các tướng rằng: « Quân giặc vây kín rồi, nếu không liều sống chết đánh tháo lấy đường chạy ra, thì chết cả! » Quân-sĩ ai nấy đều cố sức đánh phá, quân giặc phải lùi. Vương lại đem quân về núi Chí-linh.

Từ khi Bình-định-vương đem binh về Chí-linh, lương-thực một ngày một kém, trong hai tháng trời quân-sĩ phải ăn rau ăn cỏ, có bao nhiêu voi ngựa làm thịt ăn hết cả. Tướng-sĩ mỏi-mệt, đều muốn nghỉ-ngơi, xin vương hãy tạm hòa với giặc. Vương bất-đắc-dĩ sai Lê Trăn 黎 臻 đi xin hòa. Quan nhà Minh bấy giờ thấy đánh không lợi, cũng thuận cho hòa.

9. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG HẾT LƯƠNG PHẢI HÒA VỚI GIẶC. Năm quí-mão (1423) Bình-định-vương đem quân về Lam-sơn. Bấy giờ tướng nhà Minh là bọn Trần Trí 陳 智, Sơn Thọ 山 壽 thường hay cho vương trâu, ngựa, cá mắm và thóc lúa; vương cũng cho Lê Trăn đưa vàng bạn ra tạ. Nhưng sau bọn Trần Trí ngờ có bụng giả-dối, bắt giữ Lê Trăn lại, không cho về, vì vậy vương mới tuyệt giao không đi lại nữa, rồi đem quân về đóng ở núi Lư-sơn 蘆 山.

10. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG LẤY ĐẤT NGHỆ-AN. Năm giáp-thìn (1424) Bình-định-vương hội các tướng bàn kế tiến thủ. Quan thiếu-úy là Lê Chích 黎 隻 nói rằng: « Nghệ-an là đất hiểm-yếu, đất rộng người nhiều, nay ta hãy vào lấy Trà-long 茶 隆 (phủ Tương-dương) rồi hạ thành Nghệ-an, để làm chỗ trú chân đã, nhiên-hậu sẽ quay trở ra đánh lấy Đông-đô, như thế thiên-hạ có thể bình được. »

Vương cho kế ấy là phải, bèn đem quân về nam, đánh đồn Đa-căng 多 矜, tướng nhà Minh là Lương nhữ Hốt 梁 汝 笏 bỏ chạy.

Lấy được đồn Đa-căng rồi, vương tiến quân vào đánh Trà-long, đi đến núi Bồ-liệp, ở phủ Quì-châu, gặp bọn Trần Trí 陳 智, Phương Chính 方 政 đem binh đến đánh, vương bèn tìm chỗ hiểm phục sẵn; khi quân Minh vừa đến, quân ta đổ ra đánh, chém được tướng nhà Minh là Trần Trung 陳 忠, giết được sĩ-tốt hơn 2.000 người, bắt được hơn 100 con ngựa. Quân Minh bỏ chạy, vương đem binh đến vây đánh Trà-long. Quan Tri-phủ là Cầm Bành 琴 彭 chờ cứu binh mãi không được, phải mở cửa thành ra hàng.

Từ khi Bình-định-vương khởi nghĩa cho đến giờ, đánh với quân nhà Minh đã nhiều phen, được thua đã trải qua mấy trận, nhưng quan nhà Minh vẫn lấy làm khinh-thường, cho nên không tâu về cho Minh-triều biết. Bấy giờ Hoàng Phúc 黄 福 về Tàu rồi, vua nhà Minh sai Binh-bộ Thượng-thư là Trần Hiệp 陳 洽 sang thay.

Trần Hiệp thấy Bình-định-vương lấy được châu Trà-long, thanh-thế lừng-lẫy, bèn vội vàng làm sớ tâu cho vua nhà Minh biết. Minh-đế mới xuống chiếu trách mắng bọn Trần Trí, Phương Chính, bắt phải dẹp ngay cho yên giặc ấy. Bọn Trần Trí sợ-hãi đem cả thủy bộ, cùng tiến lên đánh Bình-định-vương.

Vương sai Đinh Liệt 丁 列 đem 1.000 quân đi đuờng tắt ra giữ Đỗ-gia[4], còn vương thì đem cả tướng-sĩ đến ở mạn  thượng-du đất Khả-lưu 可 留 ở bắc ngạn sông Lam-giang (thuộc huyện Lương-sơn), rồi tìm chỗ hiểm-yếu phục binh để đợi quân Minh.

Khi quân Minh đã đến Khả-lưu, vương bèn sai người, ban ngày thì kéo cờ đánh trống, ban đêm thì bắt đốt lửa để làm nghi binh, rồi cho binh sang bên kia sông phục sẵn. Sáng hôm sau quân Minh tiến lên bị phục binh bốn mặt đổ ra đánh, tướng nhà Minh là Chu Kiệt 朱 傑 phải bắt, Hoàng Thành 黄 城 phải chém, còn quân-sĩ bỏ chạy cả. Trần Trí phải thu quân về giữ thành Nghệ-an.

Tháng giêng năm ất-tị (1425) vương đem binh về đánh thành Nghệ-an, đi đến làng Đa-lôi ở huyện Thổ-du (bây giờ là huyện Thanh-chương) dân sự đưa trâu đưa rượu ra đón rước, già trẻ đều nói rằng: không ngờ ngày nay lại thấy uy-nghi nước cũ. Bấy giờ lại có quan tri-phủ Ngọc-ma (phủ Trấn-định) là Cầm Quí 琴 貴 đem binh-mã về giúp.

Vương bèn xuống lệnh rằng: « Dân ta lâu nay đã phải khổ-sổ về chính-trị bạo-ngược của người Tàu, quân ta đi đến đâu cấm không được xâm-phạm đến chút gì của ai. Những gạo thóc trâu bò mà không phải là của người nhà Minh thì không được lấy ». Đoạn rồi, phân binh đi đánh lấy các nơi, đi đến đâu các quan châu huyện ra hàng cả, đều tình-nguyện đi đánh thành Nghệ-an. Vương bèn đem quân về vây thành; quân Minh hết sức giữ-gìn không dám ra đánh.

Đương khi vây đánh ở Nghệ-an, tướng nhà Minh là Lý An 李 安 ở Đông-quan đem quân đi đường bể vào cứu. Quân của Trần Trí ở trong thành cũng đổ ra đánh, vương nhử quân Minh đến cửa sông Độ-gia, rồi dùng phục binh đánh tan quân giặc. Trần Trí bỏ chạy về Đông-quan, còn Lý An vào giữ thành, vương lại đem quân về vây thành.

11. VÂY THÀNH TÂY-ĐÔ. Đến tháng năm, vương sai quan Tư-không là Đinh Lễ 丁 禮 đem binh đi đánh Diễn-châu, Đinh Lễ đi vừa đến nơi, thì gặp tướng nhà Minh là Trương Hùng 張 雄 đem 300 chiếc thuyền lương ở Đông quan mới vào, quân ở trong thành ra tiếp, bị phục binh của Đinh Lễ đánh đuổi. Bao nhiêu thuyền lương Đinh Lễ cướp lấy được cả, rồi đuổi Trương Hùng ra đến Tây-đô. Bình-định-vương được tin ấy liền sai Lê Sát 黎 察 và Lưu nhân Chú đem binh ra tiếp ứng Đinh Lễ. Đinh Lễ nhân dịp tiến lên vây thành Tây-đô.

12. LẤY TÂN-BÌNH VÀ THUẬN-HÓA. Qua tháng bảy, vương sai quan Tư-đồ Trần nguyên Hãn 陳 元 扞[5] Thượng-tướng Lê Nỗ 黎 弩 đem hơn một nghìn quân vào lấy châu Tân-bình và châu Thuận-hóa. Đi đến Bố-chính thì gặp tướng nhà Minh là Nhâm Năng 壬 能, hai bên đánh nhau, quân nhà Minh bị phục binh đánh chạy tan cả. Bấy giờ lại có đạo thủy-quân của Lê Ngân 黎 銀 đem hơn 70 chiếc thuyền đi đường bể vào, Trần nguyên Hãn liền đem cả thủy-bộ tiến lên đánh hạ được hai thành ấy, mộ thêm mấy vạn tinh-binh đưa ra đánh mặt bắc.

Từ đây binh-thế của Bình-định-vương một ngay một mạnh, các tướng tôn ngài lên làm « Đại thiên hành-hóa 代 天 行 化 », nghĩa là thay trời làm mọi việc.

13. QUÂN BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG TIẾN RA ĐÔNG-ĐÔ. Năm bính ngọ (1426) vương thấy tinh-binh của nhà Minh ở cả Nghệ-an, ở ngoài Đông-đô không có bao nhiêu người, bèn sai Lý Triện 李 篆, Phạm văn Xảo 范 文 巧, Trịnh Khả, Đỗ Bí ra đánh Quốc-oai, Quảng-oai, Gia-hưng, Quí-hóa, Đà-giang, Tam-đái (Bạch-hạc), Tuyên-quang để chặn đường viện binh ở Vân-nam sang. Sau Lưu nhân Chú và Bùi Bị 裴 僃 ra đánh Thiên-trường, Kiến-xương, Tân-hưng, Thượng-hồng (Bình-giang), Hạ-hồng (Ninh-giang), Bắc-giang, Lạng-giang, để chặn đường viện binh ở Lưỡng Quảng sang. Lại sai Đinh Lễ 丁 禮, Nguyễn Xí 阮 熾 đem binh đi thẳng ra đánh Đông-quan.

Quân của Bình-định-vương đi đến đâu giữ kỷ-luật rất nghiêm, không xâm-phạm đến của ai chút gì, cho nên ai ai cũng vui lòng theo phục. Bọn Lý Triện lấy được Quốc-oai và Tam-đái rồi đem quân vệ đánh Đông-quan.

Quan tham-tướng nhà Minh là Trần Trí đem binh ra đóng ở Ninh-kiều[6] (phía tây phủ Giao châu) và ở Ứng-thiên (?) để chống giữ; quân Lý Triện đến đánh, Trần Trí thua chạy về đóng ở phía tây sông Ninh-giang (khúc trên sông Đáy). Chợt có tin báo rằng có hơn một vạn quân Vân-nam sang cứu, Lý Triện sợ để hai đạo quân của Minh hợp lại thì khó đánh, bèn bảo Phạm văn Xảo đem hơn một nghìn người đi đón chặn đường quân Vân-nam; còn mình thì cùng với Đỗ Bí đem quân đến đánh Trần Trí. Trần Trí thua chạy; bọn Lý Triện đuổi đến làng Nhân-mục bắt được tướng nhà Minh là Vi Lạng 韋 亮 chém được hơn 1.000, rồi lại quay trở về Ninh-giang hợp binh với Văn Xảo để đánh quân Vân-nam.

Phạm văn Xảo đến cầu Xa-lộc (?) thì gặp quân Vân-nam sang, đánh một trận, quân nghịc thua chạy về giữ thành Tam-giang.

Trần Trí thấy thế ở Đông-quan yếu lắm bèn viết thư vào Nghệ-an gọi Phương Chính đem binh ra cứu, để giữ lấy chỗ căn bản. Phương Chính được thư bèn sai Thái Phúc 蔡 福 ở lại giữ thành Nghệ-an, rồi đem quân xuống thuyền đi đường bể ra Đông-quan.

Bình-định-vương nghe tin ấy, liền sai Lê Ngân 黎 垠, Lê văn An 黎 文 安, Lê Bôi 黎 盃, Lê Thận 黎 愼, Lê Văn Linh 黎 文 零 ở lại vây thành Nghệ-an; vương tự đem đại quân cả thủy bộ Phương Chính ra bắc. Ra đến Thanh-hóa vương đem binh vào đánh thành Tây-đô, nhưng quân Minh giữ vững thành-trì đánh không được, vương đem quân đến đóng ở Lỗi-giang.

4. TRẬN TỤY-ĐỘNG: Vương Thông thất thế. Từ khi Bình-định-vương ở Lư-sơn vào đánh Nghệ-an đến giờ đánh đâu được đấy, thanh-thế lừng-lẫy, quân Minh khiếp sợ,  đem tin về cho Minh-triều biết, Minh-đế liền sai Chinh-di tướng-quân là Vương-Thông 征 夷 將 軍 王 通 và Tham-tướng là Mã Anh 馬 瑛 đem 5 vạn quân sang cứu Đông-quan. Trần Trí và Phương Chính thì phải cách hết cả quan-tước bắt phải theo quân đi đánh giặc, còn Trần Hiệp thì cứ giữ chức Tham-tán-quân-vụ.

Vương Thông sang đến đất Đông-quan hội tất cả quân-sĩ lại được mười vạn, cùng với bọn Trần Hiệp chia làm ba đạo đi đánh Bình-định-vương.

Vương Thông đem quân đến đóng ở bến Cổ-sở 古 所 (thuộc huyện Thạch-thất, phủ Quốc-oai, Sơn-tây). Phương Chính đóng ở Sa-thôi (thuộc huyện Từ-liêm), Mã Kỳ đóng ở Thanh-oai, đồn-lũy liên-tiếp nhau một dãy dài hơn mấy mươi dặm.

Bọn Lý Triện, Đỗ Bí ở Ninh-kiều đem quân và voi đến phục ở Cổ-lãm, rồi cho quân đến đánh nhử Mã Kỳ. Mã Kỳ đem tất cả quân đuổi đến cầu Tam-la (ở giáp giới huyện Thanh-oai và huyện Từ-liêm) quân phục binh của Lý Triện đổ ra đánh, quân Minh thua chạy, nhiều người xuống đồng lầy, chạy không được, bị chém hơn 1.000 người. Lý Triện đuổi quân Minh đến Nhân-mục, bắt được hơn 500 người. Mã Kỳ một mình một ngựa chạy thoát được.

Bọn Lý Triện thừa thắng tiến lên đánh đạo quân Phương Chính. Nhưng Phương Chính thấy Mã Kỳ đã thua cũng rút quân lui, rồi cùng Mã Kỳ về hội với Vương Thông ở bến Cổ-sở.

Vương Thông liệu tất thế nào quân An-nam cũng đến đánh, bèn phục binh và phòng-bị trước cả. Chợt có quân của Lý Triện đến. Quân Minh giả ra đánh rồi bỏ chạy, nhử quân ta vào chỗ hiểm có chông sắt. Đi đến đấy, voi xéo phải chông đi không được, rồi lại có phục binh đổ ra đánh, Lý Triện thua chạy về giữ Cao-bộ (ở vùng Chương-đức, Mỹ-lương) và cho người về Thanh-đàm (tức là huyện Thanh-trì bây giờ) gọi bọn Đinh Lễ và Nguyễn Xí đến cứu.

Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 3.000 quân và hai con voi lập tức đêm hôm ấy đến Cao-bộ, rồi phân binh ra phục sẵn ở Tụy-động 萃 洞 (thuộc huyện Mỹ-lương) và ở Chúc-động (thuộc huyện Chương-đức)[7]. Chợt bắt được tên thám-tử của quân Minh, tra ra thì biết rằng quân Vương Thông đóng ở Ninh-kiều, có một đạo quân đi lẻn ra đường sau quân Lý Triện để đánh tập hậu, đại quân sang đò chỉ chờ lúc nào nghe súng thì hai mặt đổ lại cùng đánh.

Biết mưu ấy rồi, đến canh năm đêm hôm ấy, Đinh Lễ sai người bắn súng làm hiệu để đánh lừa quân giặc. Quả nhiên quân giặc nghe tiếng súng đều kéo ùa đến đánh. Bấy giờ phải độ trời mưa, đường lầy, quân Minh vừa đến Tụy-động 萃 洞 thì bị quân ta bốn mặt đổ ra đánh, chém được quan Thượng-thư là Trần Hiệp 陳 洽 và Nội-quan là Lý Lượng 李 亮. Còn những quân-sĩ nhà Minh thì chết hại nhiều lắm: phần thì giày xéo lẫn nhau mà chết, phần thì ngã xuống sông chết đuối, cả thảy đến hơn năm vạn người; còn bị bắt sống hơn một vạn người, các đồ đạc khí-giới thì lấy được không biết bao nhiêu mà kể. Trận Tụy-động đánh vào tháng mười năm bính-ngọ (1426).

Phương Chính và Mã Kỳ chạy thoát được, rồi cùng với Vương Thông về giữ thành Đông-quan.

Bọn Đinh Lễ thừa thắng đem binh về vây thành và cho người về Lỗi-giang báo tin thắng trận cho Bình-định-vương biết.

Vương liền tiến binh ra Thanh-đàm, rồi một mặt sai Trần nguyên Hãn đem 100 chiếc thuyền đi theo sông Lung-giang (?)[8] ra cửa Hát-giang (cửa sông Đáy thông với sông Cái) rồi thuận dòng sông Nhị-hà xuống đóng ở bến Đông-bộ-đầu ; một mặt sai bọn Bùi Bị đem hơn 1 vạn quân đi lẻn ra đóng ở Tây-dương-kiều (?), vương tự dẫn đại quân đến hạ trại ở gần thành Đông-quan. Quân Minh giữ ở trong thành không ra đánh, bao nhiêu chiến-thuyền thì vương lấy được cả.

Kể từ ngày Bình-định-vương đem binh vào đánh Nghệ-an đến giờ, tuy rằng đánh đâu được đấy, nhưng chưa có trận nào quan-hệ bằng trận Tụy-động này. Bởi vì việc thắng bại trong 10 phần, đánh xong trận này, thì đã chắc được 7, 8 phần rồi. Quân-thế nhà Minh chỉ còn ở trong mấy thành bị vây nữa mà thôi, mặt ngoài thì viện binh lại chưa có, mà dẫu cho có sang nữa, thì thế của Bình-định-vương cũng đã vững lắm rồi.

Nhưng cứ trong Việt-sử, thì quân của Lý Triện và Đinh Lễ chẳng qua chỉ có mấy nghìn người mà thôi, làm thế nào mà phá được hơn 10 vạn quân tinh-binh của Vương Thông? Vả lại sử chép rằng đánh trận Tụy-động quân An-nam giết được hơn 5 vạn quân Minh, lại bắt được hơn 1 vạn người, như thế chẳng hóa ra quân Minh hèn lắm ru! E rằng nhà làm sử có ý thiên-vị, cho nên sự thực không được rõ lắm. Nhưng dẫu thực hư thế nào mặc lòng, đại khái trận Tụy-động là một trận đánh nhau to, mà Vương Thông thì thua, phải rút quân về giữ thành Đông-quan rồi bị vây, còn Bình-định-vương thì ra bắc thu-phục các châu huyện. Việc ấy chắc là thật có.

15. VÂY THÀNH ĐÔNG-ĐÔ. Từ khi Bình-định-vương ra Đông-đô, những kẻ hào-kiệt ở các nơi đều nô-nức về theo, xin hết sức đi đánh giặc. Vương dùng lời úy dụ, và lấy cái nghĩa lui tới mà giảng-giải cho mọi người nghe, rồi cứ tùy tài mà thu dùng.

Vương chia đất Đông-đô ra làm bốn đạo, đặt quan văn-võ để coi việc chính-trị.

Cứ theo sách « Lịch-triều-hiến-chương địa-dư-chí » của ông Phan huy Chú thì những trấn Tam-giang, Tuyên-quang, Hưng-hóa, Gia-hưng thuộc về Tây-đạo; những trấn Thượng-hồng, Hạ-hồng, Thượng-sách, Hạ-sách cùng với lộ An-bang thuộc về Đông-đạo; những trấn Bắc-giang, Thái-nguyên  thuộc về Bắc-đạo; những lộ Khoái-châu, Lý-nhân, Tân-hưng, Kiến-xương, Thiên-trường thuộc về Nam-đạo.

16. VƯƠNG THÔNG XIN HÒA LẦN THỨ NHẤT. Vương Thông ở Đông-quan cứ bị thua mãi, liệu thế đánh không được nữa, muốn bãi binh về Tàu, nhưng sợ mang tiếng, bèn lục tờ chiếu của vua nhà Minh, niên hiệu Vĩnh-lạc (1407) nói về việc tìm con cháu họ Trần, rồi cho người ra nói với Bình-định-vương tìm người dòng-dõi họ Trần lập lên, để xin bãi binh.

Vương nghĩ đánh nhau mãi, trong nước tàn-hại, dân-tình khổ-sở, bèn y theo lời Vương Thông. Nhân lúc bấy giờ có người tên là Hồ Ông 胡 翁 trốn ở Ngọc-ma, xưng là cháu ba đời vua Nghệ-tông, vương bèn cho người đi đón Hồ Ông về đổi tên là Trần Cao 陳 高 lập nên làm vua, mà vương thì xưng làm Vệ-quốc-công để cầu phong với nhà Minh, cho chóng xong việc.

Vương Thông cho người đưa thư ra xin hòa, và xin cho đem toàn quân về nước. Bình-định-vương thuận cho, định ngày để Vương Thông gọi quân ở các nơi về hội tại Đông-đô, rồi về Tàu. Việc đã định như thế, nhưng mà bấy giờ có mấy người An-nam theo nhà Minh, như những tên Trần Phong 陳 封, Lương nhữ Hốt 梁 汝 笏 sợ rằng quân Minh về thì mình phải giết, bèn lấy chuyện Ô mã Nhi ngày trước can Vương Thông đừng rút quân về. Vương Thông nghe lời, bề ngoài tuy nói hòa, nhưng bề trong sai người đào hào, rắc chông, rồi cho người đi lẻn đem thư về Tàu cầu cứu.

Bình-định-vương bắt được người đưa thư, giận lắm, không giao-thông với quân Minh nữa, rồi sai Lê quốc Hưng 黎 國 興 đánh thành Điêu-diêu (huyện Gia-lâm, Bắc-ninh) và thành Thị-kiều (tức là Thị-cầu thuộc huyện Võ-giang, Bắc-ninh); Trịnh Khả 鄭 可 và Lê Khuyển 黎 犬 đánh thành Tam-giang (tức là Tam-đái, nay là huyện Bạch-hạc); Lê Sát 黎 察 và Lê Thụ 黎 受 đánh thành Xương-giang (tức là Phủ-lạng-thương bây giờ); Trần Lựu 陳 橊 , Lê Bôi đánh thành Kỳ-ôn. Chẳng bao lâu những thành ấy đều lấy được cả.

17. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG ĐÓNG QUÂN Ở BỒ-ĐỀ. Tháng giêng năm đinh-vị (1427), Bình-định-vương tiến quân lên đóng ở chỗ Bồ-đề, ở phía bắc sông Nhị-hà, rồi sai tướng đánh thành Đông-quan: Trịnh Khả đánh cửa Đông, Đinh Lễ đánh cửa Nam, Lê Cực đánh cửa Tây, Lý Triện đánh cửa Bắc.

Quân nhà Minh một ngày một kém, tướng nhà Minh giữ thành Nghệ-an và thành Diễn-châu là bọn Thái Phúc 蔡 福 và Tiết Tụ 薛 聚 đều ra hàng cả. Bình-định-vương lại sai Lại-bộ Thượng-thư là ông Nguyễn Trãi, làm hịch đi khuyên tướng-sĩ các nơi về hàng.

Nhưng cũng vì thấy quân Minh đã yếu thế, có ý khinh định cho nên quân ta mất hai viên đại-tướng. Trước thì Lý Triện đóng ở Từ-liêm, không cẩn-thận, bị quân của Phương Chính đến đánh lẻn giết mất; sau Vương Thông ở Đông-quan đem binh ra đánh Lê Nguyễn 黎 阮 ở Tây-phù-liệt (thuộc huyện Thanh-trì), vương sai Đinh Lễ và Nguyễn Xí đem 500 quân đi cứu. Đi đến Mỹ-động (thuộc Hoàng-mai, huyện Thanh-trì) gặp quân Minh, hai bên đánh nhau. Vương Thông thấy quân Đinh Lễ có ít, bèn vây lại đánh bắt được Đinh Lễ và Nguyễn Xí. Nguyễn Xí trốn đi được, còn Đinh Lễ bị giết.

18. BÌNH-ĐỊNH-VƯƠNG ĐẶT PHÁP-LUẬT ĐỂ TRỊ QUÂN DÂN. Bình-định-vương cứ một mặt vây đánh thành Đông-quan và các thành khác, một mặt lo việc cai-trị, đặt ra các điều-lệ để cho việc binh có kỷ-luật và cho lòng dân được yên.

Trước hết vương dụ cấm tà đạo: ai mà dùng những phép tà-ma giả-dối để đánh lừa người ta thì phải tội. Còn những dân-sự bị loạn phải lưu-tán đi chỗ khác cho về nguyên quán, cứ việc làm ăn như cũ.

Những vợ con gia-quyến của những người ra làm quan với giặc, thì được phép theo lệ, lấy tiền mà chuộc[9]; còn những quân-lính nhà Minh đã hàng thì đưa về Thiên-trường, Kiến-xương, Lý-nhân, Tân-hưng để nuôi-nấng tử-tế.

Vương đặt ra ba điều để răn các quan:

  1. Không được vô tình
  2. Không được khi mạn
  3. Không được gian dâm

Và lại dụ rằng những quân-lính ngày thường có tội không được giết càn, trừ lúc nào ra trận mà trái quân-lệnh thì mới theo phép mà thi-hành.

Vương lại đặt ra 10 điều để làm kỷ-luật cho các tướng-sĩ:

  1. Trong quân ồn-ào không nghiêm
  2. Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ-hãi
  3. Lúc lâm trận nghe trống đánh, thấy cờ phất, mà chùng-chình không tiến
  4. Thấy kéo cờ dừng quân mà không dừng
  5. Nghe tiếng chiêng lùi quân, mà không lùi
  6. Phòng giữ không cẩn-thận, để mất thứ ngũ
  7. Lo riêng việc vợ con, mà bỏ việc quân
  8. Tha binh đinh về để lấy tiền, và làm sổ-sách mập-mờ
  9. Theo bụng yêu-ghét của mình mà làm lòa mất công quả của người ta
  10. Gian dâm, trộm-cắp.

Hễ tướng-sĩ ai mà phạm vào 10 điều ấy thì phải tội chém.

Còn quân-lính, thì hễ nghe một tiếng súng mà không có tiếng chiêng, thì các tướng-hiệu phải đến dinh nghe lệnh; hễ nghe hai ba tiếng súng và hai ba tiếng chiêng ấy là có việc cảnh cấp, quan chấp-lệnh phải sắp hàng ngũ, còn quan thiếu-úy thì đến dinh mà nghe lệnh; hễ đến lúc lâm trận mà lùi hoặc là bỏ những người sau không cứu, thì phải tội chém, nhưng gián hoặc đã có ai không may chết trận mà mình hết sức mang được xác ra thì khỏi tội.

Đại-khái kỷ-luật ở trong quân của Bình-định-vương như thế, cho nên đi đâu, dân-gian kính-phục lắm.

19. TRẬN CHI-LĂNG: Liễu Thăng tử trận. Từ khi quân Minh thua trận Tụy-động, Trần Hiệp bị giết, Vương Thông 王 通 cho người về tâu với Minh-đế để xin thêm binh. Minh-đế thất kinh, liền sai Chinh-lỗ phó-tướng-quân An-viễn-hầu là Liễu Thăng 柳 升, Tham-tướng Bảo-định-bá là Lương Minh 梁 銘, Đô-đốc là Thôi Tụ 崔 聚, Binh-bộ Thượng-thư là Lý Khánh 李 慶, Công-bộ Thượng-thư là Hoàng Phúc 黄 福, Hữu-bố-chính-sứ là Nguyễn đức Huân 阮 德 勛, đem 10 vạn quân, hai vạn ngựa, đi đường Quảng-tây sang đánh cửa Ba-lụy, bấy giờ là tháng chạp năm bính-ngọ (1427). Lại sai Chinh-nam-đại-tướng-quân Kiềm-quốc-công là Mộc Thạnh 沐 晟, Tham-tướng An-hưng-bá là Từ Hanh 徐 亨, Tây-ninh-bá là Đàm Trung 譚 忠 đi đường Vân-nam sang đánh cửa Lê-hoa.

Khi các tướng nghe viện binh của quân Minh sắp đến, nhiều người khuyên vương đánh ngay lấy thành Đông-quan để tuyệt đường nội ứng, nhưng vương không nghe, bảo rằng: « Việc đánh thành là hạ sách, nay ta hãy cứ dưỡng binh súc nhuệ để đợi quân địch đến thì ra đánh. Hễ viện quân mà thua, thì quân trong thành tất phải ra hàng. Thế có phải làm một việc mà thành được hai không? » Đoạn rồi bắt phải giữ-gìn mọi nơi cho nghiêm-nhặt, lại bắt người ở Lạng-giang, Bắc-giang, Tam-đái, Tuyên-quang, Qui hóa đi chỗ khác, bỏ đồng không để tránh quân Minh.

Đến tháng mười (1427) Bình-định-vương nghe tin quân của bọn Liễu Thăng đã sắp sang đất An-nam, liền hội các tướng lại bàn rằng: « Quân kia cậy khỏe khinh yếu, lấy nhiều bắt nạt ít, chỉ cốt đánh cho được, chứ không tưởng đến điều khác. Nay đường xa nghìn dặm, mà đi có mấy ngày, nếu ta nhân lúc người ngựa của chúng đang mỏi-mệt, ta « dĩ dật đãi lao », đánh là tất được. » Bèn sai Lê Sát 黎 察, Lưu nhân Chú, Lê Linh 黎 泠, Đinh Liệt 丁 列, Lê Thụ 黎 受, đem 1 vạn quân và 5 con voi lên phục sẵn ở cửa Chi-lăng 支 稜, để đợi quân Minh. Lại sai Lê Lý 黎 理, Lê văn An 黎 文 安, đem 3 vạn quân cứ lục tục kéo lên đánh giặc.

Bấy giờ Trần Lựu 陳 橊 đang giữ cửa Ba-lụy (Nam-quan) thấy quân Minh đến, lui về giữ Ai-lưu; đến khi quân giặc đến đánh Ai lưu, Trần Lựu lại lùi về giữ Chi-lăng, cứ cách từng đoạn, chỗ nào cũng có đồn, quân Minh đi đến đâu không ai dám chống giữ, phá luôn một lúc được những mấy cái đồn. Liễu Thăng đắc ý đuổi tràn đi. Bình-định-vương lại làm ra bộ khiếp-sợ, cho người đưa thư sang nói với Liễu Thăng xin lập Trần Cao lên làm vua để xin bãi binh. Liễu Thăng tiếp thư không mở ra xem cho người đưa về Bắc-kinh, rồi cứ tiến lên đánh.

Ngày 18 tháng 9, quân Liễu Thăng đến gần cửa Chi-lăng. Lê Sát sai Trần Lựu ra đánh rồi bỏ chạy. Liễu Thăng mừng lắm, chỉ đem 100 lính kị đuổi theo, bỏ đại đội ở lại sau. Đuổi được một đoạn, phải chỗ bùn lầy đi không được, phục binh ta đổ ra đánh, chém Liễu Thăng ở núi Đảo-mã-pha 倒 馬 坡 (bây giờ là Mã-yên-sơn, ở làng Mai-sao, thuộc Ôn-châu). Việc ấy vào ngày 20 tháng 9 năm đinh-vị.

Bọn Lê Sát, Trần Lựu thừa thắng đuổi đánh quân Minh giết hơn 1 vạn người. Lúc bấy giờ đạo quân của Lê Lý cũng vừa đến, hội lại tiến lên đánh quân Minh, chém được Lương Minh ở giữa trận (ngày 25). Lý Khánh thì tự-tử (ngày 28). Còn bọn Hoàng Phúc và Thôi Tụ đem bại binh chạy về thành Xương-giang (thành của nhà Minh xây ở xã Thọ-xương, phủ Lạng-giang), đi đến nữa đường bị quân của Lê Sát đuổi đến đánh phá một trận; Thôi Tụ cố đánh lấy đường chạy về Xương-giang, không ngờ thành ấy đã bị bọn Trần nguyên Hãn lấy mất rồi, quân Minh sợ-hãi quá bèn lập trại đắp lũy ở giữa đồng để chống giữ.

Bình-định-vương sai quân thủy-bộ vây đánh, sai Trần nguyên Hãn chặn đường tải lương của quân Minh, lại sai Phạm Vấn 范 問, Lê Khôi 黎 魁, Nguyễn Xí 阮 織, đem quân thiết đội vào đánh chém quân Minh được hơn 5 vạn, bắt sống được Hoàng Phúc, Thôi Tụ và 3 vạn quân. Thôi Tụ không chịu hàng phải giết.

Bấy giờ Mộc Thạnh với bọn Phạm văn Xảo và Trịnh Khả đang giữ nhau ở cửa Lê-hoa. Trước vương cũng đã liệu rằng Mộc Thạnh là người lão luyện tất chờ xem quân Liễu Thăng thắng bại thế nào rồi mới tiến, bèn sai đưa thư dặn bọn Văn Xảo cứ giữ vững chứ đừng ra đánh. Đến khi quân Liễu Thăng thua rồi, Vương cho những tên tì-tướng đã bắt được, đem những giấy má ấn tín lên cho Mộc Thạnh biết.

Mộc Thạnh được tin ấy, sợ quá, đem quân chạy, bị quân Trịnh Khả đuổi theo chém được hơn 1 vạn người và bắt được cả người lẫn ngựa mỗi thứ hơn một nghìn.

20. VƯƠNG THÔNG XIN HÒA LẦN THỨ HAI. Bình-định-vương sai đưa bọn Hoàng Phúc và hai cái hổ-phù, hai dấu đài-ngân của quan Chinh-lỗ phó-tướng-quân về Đông-quan cho Vương-Thông biết.

Vương Thông biết rằng viện binh sang đã bị thua rồi, sợ-hãi quá, viết thư xin hòa. Vương thuận cho, rồi cùng với Vương Thông lập đàn thề ở phía nam thành Đông-quan, hẹn đến tháng chạp thì đem quân về Tàu.

21. TRẦN CAO DÂNG BIỂU XIN PHONG. Bình-định-vương đã hòa với Vương Thông rồi, quân Minh ở Tây-đô và ở các nơi đều giải binh cả. Vương sai Lê thiếu Dĩnh 黎 少 穎, Lê quang Cảnh 黎 光 景 và Lê đức Huy 黎 德 煇 đem tờ biểu và phương-vật sang sứ nhà Minh.

Những đồ phương-vật là:

  1. Hai người bằng vàng để thay mình
  2. Một lư hương bằng bạc
  3. Một đôi bình hoa bằng bạc
  4. Ba mươi tấm lượt
  5. Mười bốn đôi ngà voi
  6. Mười hai bình hương trầm
  7. Hai vạn nén hương duyến
  8. Hai mươi bố cây hương trầm

 

Và lại đem hai cái dấu đài-ngân, đôi hổ-phù của Chính-lỗ phó-tướng-quân cùng với sổ kê những người quan quân nhân-mã đã bị bắt đem trả lại Minh-triều.

Còn tờ biểu thì đứng tên Trần Cao, đại-lược như sau này:

« Khi vua Thái-tổ-cao-hoàng-đế mới lên ngôi, tổ-tiên tôi là Nhật Khuê vào triều-cống trước nhất, bấy giờ ngài có ban thưởng, phong cho tước vương. Từ đó nhà tôi vẫn nối đời giữ bờ cõi, không bỏ thiếu lễ triều-cống bao giờ.

« Mới rồi nhân họ Hồ thoán-nghịch, vua Thái-tông Văn-hoàng-đế đem quân sang hỏi tội. Sau khi đã dẹp yên rồi, ngài có hạ chiếu tìm con-cháu họ Trần để giữ lấy dòng dõi cúng tế. Bấy giờ quan tổng-binh Trương Phụ tìm chưa được khắp, đã xin đặt làm quận huyện.

« Nguyên tôi lúc trước vì trong nước có loạn, chạy trốn vào xứ Lão-qua, cũng là muốn để tìm chốn yên thân mà thôi, không ngờ người trong nước, vẫn quen thói mọi, nhớ đến ân-trạch nhà tôi thủa trước, lại cố ý ép tôi phải về, bất-đắc-dĩ tôi cũng phải theo.

« Dẫu rằng trong khi vội-vàng, bị người trong nước cố ép, nhưng cũng là cái tội tôi không biết liệu xử. Mới đây tôi đã có xin lỗi trước hàng quân, nhưng không ai chịu nghe, bấy giờ người nước tôi sợ phải tai-vạ, liền đem nhau ra phòng bị các cửa ải, cũng là một kế giữ mình.

« Ngờ đâu quan quân xa xôi mới đến thấy voi sợ-hãi, tức khắc vỡ tan. Việc đã xảy ra như vậy, dẫu bởi sự bất-đắc-dĩ của người trong nước cũng là lỗi của tôi. Nhưng bao nhiêu những quân và ngựa bắt được đều phải thu dưỡng tử-tế, không dám xâm-phạm một tí gì.

« Dám xin Hoàng-thượng ngày nay lại theo như lời chiếu của vua Thái-tông Văn-hoàng-đế, tìm lấy con cháu họ Trần, nghĩ đến cái lòng thành vào triều-cống trước nhất của tổ-tiên tôi ngày xưa, mà xá cái tội to như gò núi ấy, không bắt phải cái phạt nặng bằng búa rìu, khiến cho tôi được nối nghiệp ở xứ nam, để giữ chức triều-cống.

« Tôi đã sai người thân-tín mang tờ biểu tạ và đưa trả những ấn-tín nhân-mã tới chốn kinh-sư, nay lại xin đệ tâu những danh số ấy. »

Vua nhà Minh bấy giờ là Tuyên-tông 宣 宗 xem biểu biết rằng giả-dối, nhưng cũng muốn nhân dịp ấy để thôi việc binh, bèn đưa tờ biểu cho quần-thần xem, mọi người đều xin hòa. Minh-đế sai quan Lễ-bộ thị-lang là Lý Kỳ 李 琦 đưa chiếu sang phong cho Trần Cao làm An-nam quốc-vương, bỏ tòa Bố-chính, và triệt quân về Tàu.

Đến tháng chạp năm đinh-vị, Vương Thông theo lời ước với Bình-định-vương, đem bộ binh qua sông Nhị-hà, còn thủy-quân theo sau.

Bấy giờ có người xui vương rằng: lúc trước người Minh tàn-ác lắm, nên đem giết cả đi. Vương nói rằng: « Phục thù báo oán là cái thường tình của mọi người, nhưng cái bản-tâm người có nhân không muốn giết người bao giờ. Vả người ta đã hàng mà lại còn giết thì không hay. Nếu mình muốn thỏa cơn giận một lúc, mà chịu cái tiếng muôn đời giết kẻ hàng, thì sao bằng để cho muôn vạn con người sống mà khỏi được cái mối tranh chiến về đời sau, lại để tiếng thơm lưu-truyền thiên cổ trong sử xanh. »

Vương không giết người Minh lại cấp cho thủy-quân 500 chiếc thuyền giao cho Phương Chính và Mã Kỳ quản-lĩnh; cấp lương-thảo cho lục-quân giao cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc quản-lĩnh; còn 2 vạn người đã ra hàng và đã bị bắt thì giao cho Mã Anh quản-lĩnh đem về Tàu. Vương Thông thì lĩnh bộ binh đi sau. Bình-định-vương tiễn-biệt rất hậu.

Giặc Minh lục-tục về bắc, bấy giờ mới thật là: Nam quốc sơn hà, nam đế cư; nước Nam lại được tự chủ như cũ.

22. TỜ BÌNH NGÔ ĐẠI-CÁO. Bình-định-vương dẹp xong giặc Minh rồi, sai ông Nguyễn Trãi làm tờ bá cáo cho thiên-hạ biết.

Tờ Bình Ngô đại-cáo này làm bằng Hán-văn, là một bản văn-chương rất có giá-trị trong đời Lê. Nay theo nguyên văn ở trong tập Hoàng-Việt văn-tuyển mà chép ra như sau này:

平吳大誥
 
蓋聞仁義之舉 , 要在安民 。 弔伐之師 。 莫先去暴 。 惟我大越之國 , 實為文 
獻之邦 。 山川之封域既殊 , 南北之風俗亦異 。 自趙丁李陳之肇造我國 , 與 
漢唐宋元而各帝一方 。 雖彊弱時有不同 , 而豪傑世未嘗乏 。 故劉龔貪功以 
取敗 , 而趙禼好大以促亡 。 唆都既擒於鹹子關 , 烏馬又殪於白藤海 。 稽諸 
往古 , 厥有明徵 。 頃因胡政之煩苛 , 致使人心之怨叛 。 狂明伺隙 , 因以毒 
我民 。 僞黨懷奸 , 竟以賣我國 。 焮蒼生於虐焰 , 陷赤子於禍坑 。 欺天罔民 
, 詭計蓋千萬狀 。 連兵結釁 , 稔惡殆二十年 。 敗義傷仁 , 乾坤幾乎欲息 。 
重科厚歛 , 山澤靡有孑遺 。 開金場 , 則冒嵐瘴而斧山陶沙 , 採明珠 , 則觸 
蛟龍而絙腰汆海 。 擾民設玄鹿之陷阱 。 殄物織翠禽之網羅 。 昆蟲草木皆不 
得以遂其生 , 鰥寡顛連俱不獲以安其所 。 浚生民之血 , 以潤桀黠之吻牙 。  
極土木之功 , 以崇公私之廨宇 。 州里之征徭重困 , 閭閻之杼柚皆空 。 決東 
 

 

海之水 , 不足以濯其污 。 罄南山之竹 , 不足以書其惡 。 神人之所共憤 , 天 
地之所不容 。 予奮跡藍山 , 棲身荒野 。 念世讎讐豈可共戴 。 誓逆賊難與俱生 
。 痛心疾首者垂十餘年 , 嘗膽臥薪者蓋非一日 。 發憤忘食 , 每研覃韜畧 
之書 。 即古驗今 , 細推究興亡之理 。 圖回之志 , 寤寐不忘 。 當義旗初起之 
時 , 正賊勢方張之日 。 奈以人材秋葉 , 俊傑晨星 。 奔走前後者既乏其人 ,  
謀謨帷幄者又寡其助 。 特以救民之念 , 每鬱鬱而欲東 。 故於待賢之車 , 常 
汲汲以虛左 。 然其得人之效 , 茫若望洋 。 由己之誠 , 甚於拯溺 。 憤兇徒之 
未滅 , 念國步之遭屯 。 靈山之食盡兼旬 。 瑰縣之眾無一旅 。 蓋天欲困我以 
降厥任 , 故予益勵志以濟于難 。 揭竿為旗 , 氓隸之徒四集 。 投醪饗士 , 父 
子之兵一心 。 以弱制彊 , 或攻人之不備 。 以寡敵眾 , 常設伏以出奇 。 卒能 
以大義而勝凶殘 , 以至仁而易彊暴 。 蒲藤之霆驅電掣 , 茶麟之竹破灰飛 。  
 
士氣以之益增 , 軍聲以之大振 。 陳智山壽 , 聞風而褫魄 。 李安方政 , 假息 
以偷生 。 乘勝長驅 , 西京既為我有 。 選鋒進取 , 東都盡復舊疆 。 寧橋之血 
成川 , 流腥萬里 。 崒洞之屍積野 , 遺臭千年 。 陳洽賊之腹心 , 既梟其首 。  
李亮賊之奸蠹 , 又暴厥屍 。 王通理亂而焚者益焚 。 馬瑛救鬪而怒者益怒 。  
彼智窮而力盡 , 束手待亡 。 我謀伐而心攻 , 不戰自屈 。 謂彼必易心而改慮  
,豈意復作孽以速辜 。 執一己之見 , 以嫁禍於他人 。 貪一時之功 , 以貽笑 
於天下 。 遂令宣德之狡童 , 黷兵無厭 。 仍命晟昇之懦將 , 以油救焚 。 丁未 
九月 , 柳昇遂引兵由邱溫而進 。 本年本月 , 沐晟亦分途自雲南而來 。 予前 
既選兵塞險以摧其鋒 。 予後再調兵截路以斷其食 。 本月十八日 , 柳昇為我 
軍所攻 , 計墮於支棱之野 。 本月二十日 , 柳昇為我軍所敗 , 身死於馬鞍之 
山 。 二十五日 , 保定伯梁銘陣陷而喪驅 。 二十八日 , 尚書李慶計窮而刎首 
 
。 我遂迎刃而解 , 彼自倒戈相攻 。 繼而四面添兵以包圍 , 期十月中旬而 
殄滅 。 爰選貔貅之士 , 申令爪牙之臣 。 飲象而河水乾 , 磨刀而山石缺 。 一 
皷而鯨刳鱷斷 , 再皷而鳥散麕驚 。 決潰蟻於崩堤 , 振剛風於槁葉 。 都督崔 
聚膝行而送欵 , 尚書黃福面縛以就擒 , 僵屍塞諒江諒山之途 , 戰血赤昌江 
平灘之水 。 風雲為之變色 , 日月慘以無光 。 其雲南兵為我軍所扼於梨花 ,  
自恫疑虛喝而先已破膽 。 其沐晟眾聞昇軍大敗於芹站 , 遂躪藉奔潰而僅得 
脫身 。 冷溝之血杵漂 , 江水為之嗚咽 。 丹舍之屍山積 , 野草為之殷紅 。 兩 
路救兵 , 既不旋踵而俱敗 。 各城窮寇 , 亦將解甲以出降 。 賊首成擒 , 彼既 
掉餓虎乞憐之尾 。 神武不殺 , 予亦體上帝好生之心 。 參將方政 , 內官馬騏 
, 先給艦五百餘艘 , 既渡海而猶且魂飛魄喪 。 總兵王通 , 參政馬瑛 , 又給 
馬數千餘匹 , 已還國而益自股慄心驚 。 彼既畏死貪生 , 而修好有誠 。 予以 
 

 

全軍為上 , 而欲民得息 , 非惟計謀之極其深遠 , 蓋亦古今之所未見聞 。 社 
稷以之尊安 , 山川以之改觀 。 乾坤既否而復泰 , 日月既晦而復明 。 于以開 
萬世太平之基 , 于以雪千古無窮之恥 。 是由天地祖宗之靈 , 有以默相陰佑 
, 而致然也 。 於戲 , 一戎大定 , 迄成無競之功 , 四海永清 , 誕布維新之誥 
。 播告遐邇 , 咸使聞知 。 
 
 

 

 

Xem bài phiên-âm
Bình Ngô đại-cáo
trong phần phụ-lục
trang 277.

 

Tượng-mảng:

Việc nhân-nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt từ trước, vốn xưng văn-hiến đã lâu. Sơn-hà cương-vực đã chia, phong-tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc-lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng-cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào-kiệt đời nào cũng có.

Vậy nên:

Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Tiết nghe tiếng giật mình. Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Xét xem cổ tích, đã có minh trưng[10].

Vừa rồi:

Vì họ Hồ chính-sự phiền-hà, để trong nước nhân-dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược[11], bọn gian-tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung-tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai-vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân-nghĩa, nát cả càn-khôn, nặng khoa-liễm[12] vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn-hại cả côn-trùng thảo-mộc; nheo-nhóc thay quan quả điên-liên[13]. Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no-nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục-dịch cho vừa. Nặng-nề về những nỗi phu-phen, bắt-bớ mất cả nghề canh-cửi. Độc-ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ-bẩn thay ! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần-nhân nhịn được.

Ta đây:

Núi Lam-sơn dấy nghĩa, chốn hoang-dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thù, thề sống chết cùng quân nghịch-tặc. Đau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa; nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược-thao suy-xét đã tinh; ngẫm trước đến nay, lẽ hưng-phế đắn-đo càng kỹ. Những trằn-trọc trong cơn mộng-mị, chỉ băn-khoăn một nỗi đồ-hồi. Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn-kiệt như sao buổi sớm, nhân-tài như lá mùa thu. Việc bôn-tẩu thiếu kẻ đỡ-đần, nơi duy-ác hiếm người bàn-bạc. Đôi phen vùng-vẫy, vẫn đăm-đăm con mắt dục đông[14]; mấy thủa đợi-chờ, luống đằng-đẵng cỗ xe hư tả[15]. Thế mà trông người, người càng vắng-ngắt, vẫn mịt-mờ như kẻ vọng dương[16]; thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội-vã như khi chửng-nịch[17]. Phần thì giận hung-đồ ngang-dọc, phần thì lo quốc-bộ khó-khăn. Khi Linh-sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi-huyện quân không một lữ. Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma; cho nên ta cố-gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy, ngọn cờ phất-phới, ngóng vân-nghê bốn cõi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu ngọt-ngào, khắp tướng-sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi; quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn.

Dọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung-tàn, lấy chí nhân mà thay cường-bạo. Trận Bồ-đằng sấm vang sét dậy, miền Trà-lân trúc phá tro bay. Sĩ-khí đã hăng, quân thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan; Phương Chính, Lý An tìm đường trốn-tránh. Đánh Tây-kinh phá tan thế giặc, lấy Đông-đô thu lại cõi xưa. Dưới Ninh-kiều máu chảy thành sông; bến Tụy-động xác đầy ngoài nội. Trần Hiệp đã thiệt mạng, Lý Lương lại phơi thây. Vương thông hết cấp lo  lường, Mã Anh khôn đường cứu đỡ. Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao; ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất. Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui; ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội-nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người; tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dơ-duốc. Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên-đức[18], nhàm võ không thôi; lại sai đồ nhút-nhát như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy. Năm đinh-mùi tháng chín, Liễu Thăng từ Khâu-ôn tiếng sang; lại năm nay tháng mười, Mộc Thạnh tự Vân-nam kéo đến. Ta đã điều binh giữ hiểm để ngăn lối Bắc-quân; ta lại sai tướng chẹn ngang để tuyệt đường lương-đạo. Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi-lăng, hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã-yên. Hai-mươi-lăm, Lương Minh trận vong; hai-mươi-tám, Lý Khánh tự vẫn. Lưỡi dao ta đang sắc, ngọn giáo giặc phải lùi. Lại thêm quân bốn mặt vây thành, hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc. Sĩ-tốt ra oai tì hổ, thần-thứ đủ mặt trảo nha. Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình-ngạc, đánh hai trận tan-tác chim-muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, tổ kiến hổng sụt toang đê cũ. Thôi Tụ phải quì mà xin lỗi, Hoàng Phúc tự trói để ra hàng. Lạng-giang, Lạng-sơn thây chất đầy đường, Xương-giang, Bình-than máu trôi đỏ nước. Gớm-ghê thay ! sắc phong-vân cũng đổi; thảm-đạm thay ! sáng nhật-nguyệt phải mờ. Binh Vân-nam nghẽn ở Lê-hoa, sợ mà mất mật; quân Mộc Thạnh tan chưn Cần-trạm, chạy để thoát thân. Suối máu Lãnh-câu, nước sông rền-rĩ; thành xương Đan-xá, cỏ nội đầm-đìa. Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy; các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu. Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ-hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú-phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ-ngơi.

Thế mới là mưu-kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang-san từ đây mở mặt, xã-tắc từ đầy vững nền. Nhật-nguyệt hối mà lại minh, càn-khôn bĩ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn-chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch làu-làu. Thế là nhờ trời đất tổ-tông khôn-thiêng che-chở, giúp-đỡ cho nước ta vậy.

Than ôi!

Vẫy-vùng một mảng nhung-y nên công đại-định, phẳng-lặng bốn bề thái-vũ mở hội vĩnh-thanh. Bá-cáo xa gần, ngỏ cùng nghe biết.    



 

Chú thích cuối trang

  1. Sách « Khâm-định thông-giám » chép là núi Chí-linh này ở phủ Trấn-định, tỉnh Nghệ-an, tức là ở vào đất Cam-môn, Cam-cát giáp tỉnh Hà-tĩnh. Nhưng xem kỹ địa-đồ thì vua Thái-tổ khởi binh ở Lam-sơn, thuộc huyện Thụy-nguyên, phủ Thiệu-hóa, và lúc ấy vẫn lui tới ở vùng Lạc-thủy, tức là Cẩm-thủy và ở vùng Nga-sơn. Vậy thì núi Chí-linh này không phải ở miền Trấn-định, mà chắc là chỉ ở trong vùng Thanh-hóa mà thôi. Xem như khi ngài thua ở Chí-linh thì chạy về Lư-sơn ở châu Quan-hóa, thuộc phủ Quảng-hóa thì biết. Vả lại ngày khởi nghĩa từ năm mậu-tuất (1418) mà mãi đến năm giáp-thìn (1424) thì ngài mới bàn sự đi đánh mạn Nghệ-an, như thế mà nói rằng núi Chí-linh ở phủ Trấn-định, tức là xứ Ngọc-ma ngày trước, ở phía nam tỉnh Nghệ-an bấy giờ, thì chắc là lầm.
  2. Lỗi-giang là tên một khúc sông Mã-giang ở vùng trên huyện Cẩm-thủy.
  3. Ông Nguyễn Trãi là cháu ngoại ông Trần nguyên Đán, bởi vậy ông cùng với Trần nguyên Hãng có tình thân.
    Ông Nguyễn Trãi và ông Trần nguyên Hãng là người đại công-thần nhà Lê, sau đều bị giết hại cả.
  4. Vào quãng gần đồn Linh-cảm, huyện Hương-sơn, Hà-tĩnh.
  5. Trần nguyên Hãn, có nơi chép là Trần Hãn, là cháu Trần nguyên Đán, dòng-dõi Trần quang Khải.
  6. Những tên Ninh-kiều, Ninh-giang, Ứng-thiên chắc là ở vùng huyện Từ-liêm, huyện Thanh-oai, về quãng sông Nhuệ-giang và sông Đáy. Mà Ninh-giang có lẽ là khúc sông Đáy ở vào quãng Từ-liêm hay Thanh-oai gì đó.
  7. Tụy-động và Chúc-động ở vào quãng huyện Chương-mỹ, phía đông có sông Đáy, phía tây có con sông con gọi là sông Bùi, chảy vào sông Đáy, chỗ Ngã-ba-thá.
  8. Chắc là một khúc sông Đáy thuộc hạt tỉnh Hà-đông bây giờ.
  9. Vợ con của quan Bố-chính thì phải 70 quan; vợ con những sinh-viên và thổ-quan thì 10 quan; còn những con-trai, con-gái đầy-tớ, đứa-ở thì 5 quan.
  10. Minh-trưng: chứng-cớ rõ-ràng
  11. Tứ-ngược: Hết sức tàn ngược
  12. Khoa-liễm: Thuế-má
  13. Quan: Người không vợ; quả: người góa chồng; điên-liên: những kẻ không có nhà ở, không trông-cậy vào đâu được.
  14. Dục đông: Ý nói muốn về Đông-đô
  15. Hư tả: Cỗ xe không bên trái để đợi người hiền
  16. Vọng dương: Trông ra biển không thấy gì
  17. Chửng-nịch: Vớt người chết đuối
  18. Vua Tuyên-tông nhà Minh, niên-hiệu Tuyên-đức.