Mở đầu
Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích lũy được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta hội tụ đủ những điều kiện cần thiết... để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.
Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ, nhưng có lẽ chưa bao giờ cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế của đất nước lại được khẳng định mạnh mẽ như bây giờ. Công cuộc đổi mới trong gần 40 năm qua đã đạt được những thành tựu rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt của đất nước, cải thiện rõ nét đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhưng tầm vóc của công cuộc đổi mới và sự hội nhập càng lớn bao nhiêu thì những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết càng khó khăn, phức tạp bấy nhiêu. Đảng ta đã chỉ rõ trên chặng đường đi tới, chúng ta gặp phải không ít những khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp không thể xem thường.
Trong các định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta cần quan tâm đến xây dựng hệ thống chính sách xã hội. Hệ thống chính sách xã hội mà chúng ta đang thực hiện và tiếp tục hoàn thiện dựa trên cơ sở những quan điểm lớn của Đảng; tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở việc tạo công ăn việc làm, điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa. Vấn đề quan trọng đang đặt ra đối với công tác xã hội là chống tội phạm, chống tham nhũng, buôn lậu, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Tìm đúng nguyên nhân từng tệ nạn; thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính và pháp luật để phòng, chống có hiệu quả.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định:“Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội; Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh”(1); “Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”[1] [2].
Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tệ nạn xã hội, kiểm soát ma túy, mại dâm; tăng cường công tác phòng ngừa, đẩy mạnh cai nghiện tự nguyện, giảm cai nghiện bắt buộc; hỗ trợ người sau cai nghiện, mại dâm, nạn nhân bị buôn bán trở về hòa nhập cộng đồng”[3]. Chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; đồng thời, “phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội”[4].
Tệ nạn xã hội đã và đang gây tác hại nhiều mặt đến đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, ảnh hưởng tiêu cực tới nét đẹp văn hóa, sức khỏe của nhân dân, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp ngăn chặn nhằm xóa bỏ các tệ nạn xã hội, bảo đảm cho mỗi người dân, mỗi gia đình có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mặc dù công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội đã được tổ chức thực hiện rất quyết liệt bằng nhiều giải pháp, với sự nỗ lực của toàn xã hội, nhưng tệ nạn xã hội vẫn có xu hướng gia tăng, đặc biệt là nạn buôn bán ma túy, nghiện hút ma túy. Tình hình trên có nguyên nhân khách quan là do áp lực gia tăng của tội phạm trên thế giới và khu vực. Song, chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan. Ở nhiều nơi, cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng tầm mức, thiếu sâu sát, kiên quyết trong lãnh đạo, chỉ đạo, công tác quản lý nhà nước. Cơ quan tham mưu về lĩnh vực này hoạt động chưa thật chủ động và hiệu quả. Hệ thống pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.
Do đó, yêu cầu bức thiết cần phải nhìn nhận, đánh giá những thuận lợi, thời cơ, khó khăn thách thức trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội; đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hoặc